Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

NHỮNG LINH ĐẠO KHÁC NHAU DỰA THEO CÁC BẬC SỐNG

NHỮNG LINH ĐẠO KHÁC NHAU DỰA THEO CÁC BẬC SỐNG

(Thời sự Thần học – Số 4 – Tháng 4/1996, tr. 68-86) 

Tải tệp tin doc tại đây

Phan Tấn 

"Bậc sống" dịch từ tiếng la-tinh "status vitae" (tiếng Pháp: état de vie). Dựa theo nguyên ngữ (status, stare), nó hàm ngụ một cách thức, một trạng thái bền vững (stabilitas) trong việc sinh sống và hoạt động. Đối với thần học, trạng thái đó có thể áp dụng vào đời sống nội tâm hay cách sinh sống bề ngoài. Trạng thái bền vững của đời sống nội tâm thường hiểu là tình trạng sống thường xuyên trong ơn nghĩa Chúa (trạng thái ơn thánh) hay là sống trong tội lỗi. Còn trạng thái bền vững bề ngoài thì áp dụng vào một nếp sống, một nghề nghiệp.

Trong Giáo Luật, có sự phân biệt các tín hữu thành ba bậc sống hay hàng ngũ : giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân. Trong quá khứ, nhiều sách tu đức đã trình bày các linh đạo cho mỗi hàng ngũ đó, nghĩa là : linh đạo dành cho giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân. Người ta giả thiết rằng mỗi người đi vào một hàng ngũ không phải chỉ do sở thích của mình, nhưng là do ơn Chúa gọi. Và khi Chúa gọi ai vào bậc nào thì Ngài cũng ban cho ơn thánh tương ứng để chu toàn bổn phận, không những nhằm sự hoàn thiện bản thân mà còn nhằm công ích cho cộng đồng Hội Thánh nữa. Vì vậy, mỗi người hãy cố gắng nên thánh trong bậc của mình, trong hàng ngũ của mình, qua việc chu toàn những bổn phận của bậc mình. Thực ra, đã có rất nhiều sách viết về đường nên thánh dành dành cho các linh mục và tu sĩ; nhưng dành cho các giáo dân thì còn hiếm. Vì vậy, chúng ta hãy bắt đầu từ các giáo dân trước, và dĩ nhiên trong mục này chúng tôi chỉ nêu ra những vấn đề đặt ra cho thần học hơn là tìm cách giải đáp. 

I. Linh đạo của các giáo dân 

Vấn đề đầu tiên được đặt lên là : giáo dân là gì ? Từ trước đến nay, người ta thường định nghĩa giáo dân một cách tiêu cực : giáo dân là người tín hữu nào không phải là giáo sĩ hay tu sĩ. Định nghĩa như vậy khác nào nói rằng họ không là gì hết : họ chỉ là tờ giấy trắng, chờ có bàn tay họa sĩ nào đó vẽ lên chân dung của một linh mục hay tu sĩ; còn nếu không thì họ vẫn mãi mãi là tờ giấy trắng, vô hình vô tượng. Chúng ta đã biết rằng Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã cố gắng sửa đổi lại quan điểm về giáo dân, tìm ra một yếu tố tích cực hơn, đó là người tín hữu sống giữa đời. Tính chất riêng của họ là "đời" hay là "trần thế" (saecularitas, gốc từ saeculum). Điều mà Va-ti-ca-nô II đã gợi lên ở Hiến Chế về Hội Thánh số 31, được chính Công Đồng quảng diễn ở Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân, và trong Tông Huấn "Người Ki-tô hữu giáo dân" của Đức Gio-an Phao-lô II đúc kết cuộc thảo luận của Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1987. Tuy nhiên, một số nhà thần học vẫn không hài lòng cho lắm về khái niệm giáo dân như vậy. Thực vậy, nếu người tín hữu trở thành giáo sĩ qua bí tích truyền chức, và trở thành tu sĩ qua lời khấn dòng, thì cái gì làm cho họ trở thành người giáo dân? Ta phải tìm cách định nghĩa người giáo dân do ơn gọi tích cực của họ, chứ không thể định nghĩa cách tiêu cực, như là người không được gọi làm giáo sĩ hay tu sĩ. Cần phải tìm ra một tiêu chuẩn tích cực để định nghĩa ơn gọi giáo dân, khác với bí tích rửa tội và thêm sức, chung cho tất cả các tín hữu dù thuộc bất cứ hàng ngũ nào. Ta không thể coi rằng bất cứ ai rửa tội đều mang ơn gọi làm giáo dân, nhất là không thể gọi mấy đứa nhóc con cũng là giáo dân; cần phải tìm ra yếu tố nào khác. Có người đã đề nghị nên coi bí tích hôn nhân như là bí tích riêng biệt của hàng giáo dân, nhờ đó ra như họ được thánh hiến trong sứ mạng của họ. Tuy nhiên, tiêu chuẩn đó cũng không được mọi người chấp nhận, xét vì có nhiều giáo dân sống giữa đời mà không kết bạn. Đó là vấn đề thứ nhất : làm sao định nghĩa người giáo dân? 

Ngoài ra, có người khác thì muốn đặt lại toàn bộ vấn đề : có nên duy trì sự phân chia ba hàng ngũ cổ truyền (giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân) hay không ? Sự phân biệt ấy có còn ích lợi gì nữa hay không? Thực ra, sự phân biệt ba hàng ngũ không phải lúc nào cũng hợp với luận lý trăm phần trăm. Theo luận lý về sự phân chia, thì ai ở trong hàng ngũ này thì không thể ở trong hàng ngũ khác được nữa. Thế nhưng ta biết là có những người vừa là tu sĩ vừa là giáo sĩ, tỉ như các linh mục Dòng; thế thì các tu sĩ cũng có thể đồng thời là giáo dân chứ ? Dưới một khía cạnh nào đó thì quả đúng như vậy, tỉ dụ tất cả các nữ tu đều là giáo dân cả, xét vì họ không có chịu chức thánh. Nhưng nếu xếp họ ngang hàng với các giáo dân thì chắc chắn rằng họ sẽ không hài lòng. Vấn đề trở nên phức tạp hơn với các thành viên tu hội đời. Họ không muốn xếp vào hàng các tu sĩ, xét vì họ muốn sống đời tận hiến ở giữa đời, chứ không muốn tránh xa đời như các tu sĩ. Tuy nhiên, họ cũng không muốn đồng hóa với các giáo dân bởi vì họ là những người tận hiến cho Chúa, qua việc tuyên giữ ba lời khuyên Tin Mừng. Chính những vấn nạn như vậy mà ta thấy có những sự chỉ trích việc phân biệt ba hàng ngũ (giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân), và do đó, thúc đẩy việc tìm ra hoặc là tiêu chuẩn khác để phân biệt các hàng ngũ, hay là tìm ra những danh từ khác. 

Dù sao, ta nên ghi nhận hai điểm sau đây: 

1) Ngoài sự phân biệt các hàng ngũ dựa theo vị trí và sứ mạng trong Hội Thánh và thế giới, Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã nhấn mạnh rằng bất kỳ tín hữu nào, trong bất cứ hàng ngũ nào, cũng đều được mời gọi và có bổn phận nên thánh. Chúng ta đã nghe nói đi nói lại nhiều lần về điều này rồi. Tuy nhiên làm sao rút ra những hệ luận thực tiễn ? Thiết tưởng một trong các hệ luận mà chúng ta cần rút ra là bất cứ người tín hữu nào, dù sống trong hàng ngũ nào, cũng cần phải phát triển đức ái qua những phương tiện mà chúng ta đã biết : việc kết hiệp với Chúa, khám phá ra sự hiện diện của Chúa qua trách nhiệm hàng ngày; việc nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng nhờ suy gẫm Lời Chúa, cầu nguyện, lãnh nhận bí tích, thông hiệp với Hội Thánh. 

2) Khi bàn về linh đạo của các giáo dân, các tác giả cố gắng đi sâu vào những điều kiện sinh sống cụ thể hôm nay; từ đó ta có thể nói rằng có rất nhiều linh đạo giáo dân, chứ không phải chỉ có một, xét vì có rất nhiều điều kiện sinh sống khác nhau. Chúng ta hãy điểm qua vài yếu tố chính. 

1. Hôn nhân và trinh khiết. 

Trên đây, chúng tôi đã nói qua rằng có tác giả muốn coi bí tích hôn nhân là đặc trưng của hàng ngũ giáo dân. Dù thuyết này bị chỉ trích, nhưng chúng ta phải nhận rằng đại đa số các giáo dân đã ở trong bậc hôn nhân. Vì vậy, cần phải có một linh đạo dành cho họ, làm sao cho thấy hôn nhân như là ơn gọi nên thánh, và những người đã kết hôn thì nên thánh qua việc chu toàn bổn phận của vợ chồng, cha mẹ. Ngoài ra họ cũng được gọi làm việc tông đồ bằng cách giúp cho các gia đình khác sống ơn gọi hôn nhân. - Mặt khác, người ta cũng ghi nhận rằng không phải tất cả các giáo dân đều kết bạn, và ai không muốn kết bạn thì hãy đi tu. Ngày nay có những người nam nữ đã chọn con đường độc thân, với lời khấn tư hay đôi khi chẳng có lời khấn nữa, để phục vụ Chúa và Hội Thánh. Những người này cần có một linh đạo riêng dành cho họ. 

2. Nghề nghiệp. 

Ngoài tiêu chuẩn hôn nhân hay trinh khiết, linh đạo dành cho các giáo dân cũng cần phải để ý tới nghề nghiệp nữa. Thực ra, có nhiều người phải làm một nghề mà họ chẳng ưa thích tí nào cả : họ cực chẳng đã phải đâm đầu vào đó để kiếm đồng lương sinh sống. Tuy nhiên, ngoài việc kiếm kế sinh nhai, liệu có thể coi cái nghề nghiệp như là cơ hội để làm chứng cho Đức Ki-tô hay không? có thể coi đó như là cơ hội để phục vụ tha nhân hay không? Những câu hỏi đó được đặt ra một cách đặc biệt hơn nữa đối với những người tự ý đi chọn một nghề nghiệp : ký giả, thương gia, bác sĩ, luật sư, v.v... Một vấn đề thời sự tại nhiều nước Âu châu hiện nay là môi trường chính trị : người giáo dân thay vì coi môi trường đó như là nơi tranh chấp quyền hành thế lực, thì cần coi đó như phương tiện phục vụ xã hội, tìm cách đưa các giá trị công bằng bác ái vào đời sống xã hội nhờ các pháp chế, guồng máy chính quyền. 

3. Tuổi tác, sức khỏe. 

Như đã nói ở đầu, nói tới bậc sống là nói tới một trạng thái bền vững. Do đó ta có thể nói tới trạng thái hôn nhân, độc thân, nghề nghiệp, xét vì chúng là những điều kiện sinh sống kéo dài ra như suốt đời. Tuy nhiên, ở trên đời này, các sự bền vững chỉ có tính cách tương đối, cũng như chính cuộc sống của chúng ta vậy. Ít ai trong chúng ta mơ sống tới trăm tuổi. Do đó mà tuổi tác tuy tự bản chất của nó là chóng qua, nhưng cũng có thể trở thành yếu tố để nên thánh. Do đó mà có thể nói tới linh đạo dành cho tuổi trẻ, cũng như linh đạo dành cho lứa trung niên hay tuổi già. Thực ra thì yếu tố tuổi tác có ảnh hưởng đến đời sống thể chất, tâm lý và thiêng liêng của bất cứ ai : dù là giáo dân, tu sĩ hay giáo sĩ. Vì thế không lạ gì mà gần đây người ta thấy xuất hiện những tác phẩm nói về tuổi đứng bóng (lứa tuổi 40-50) khi mà tu sĩ hay linh mục cần có sự trở lại thứ hai (secunda conversio) nếu không muốn thấy những khủng hoảng đổ vỡ đáng tiếc. Liên hệ với tuổi tác là sức khỏe : tuy không ai muốn bệnh tật trở thành một "bậc sống" cho mình, nhưng thần học tu đức cũng phải nghiên cứu tình trạng của những người mà bệnh tật trở thành cái nghiệp của họ, và do đó, một đường lối nên thánh riêng của họ. 

4. Nam và nữ giới. 

Có lẽ phải coi đây là cái gì bền vững nhất trong cuộc sống con người : con người sinh ra thuộc phái nam hay phái nữ, và sẽ mang cái phái tính ấy kể cả sang thế giới mai hậu. Có lẽ trong quá khứ các nhà thần học không để ý mấy đến yếu tố này. Dù sao, thì như chúng ta đã thấy trong phần lịch sử, đa số các tác giả tu đức thuộc về nam giới, và các cách suy tư phát biểu của họ chịu ảnh hưởng của phái nam. Thí dụ các ông hình dung Đức Ma-ri-a như người nữ thùy mị, đoan trang, ăn nói nhỏ nhẹ, yên thân với việc cơm nước trong nhà. Còn nếu để cho các bà trình bày linh đạo cho giới mình, thì có lẽ bức chân dung ấy sẽ thay đổi. Phụ nữ là người biết quên mình, hy sinh mình cho tha nhân, để ý tới người khác; phụ nữ là người thùy mị nhưng không yếu ớt, họ kiên nhẫn, can trường đối phó với nghịch cảnh. Đức Ma-ri-a là người dám ca tụng Thiên Chúa vì đã lật nhào những kẻ áp bức hống hách và ban thưởng cho người khiêm nhường, khó nghèo. Dù sao đi nữa, khi đọc lại hạnh tích của các thánh nữ, dù là nổi tiếng như Ca-ta-ri-na Xi-ê-na, Tê-rê-xa A-vi-la hay chỉ là những phụ nữ tầm thường, ta có thể thấy muôn vàn hình thái của linh đạo của các phụ nữ bộc lộ và phát triển tất cả bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần. 

Thiết tưởng đó là những yếu tố để khai triển linh đạo cho các giáo dân, như Tông Huấn "Người Ki-tô hữu giáo dân" đã gợi lên ở các số 45-56. 

II. Lịch sử linh đạo các linh mục. 

Trong bài này, chúng tôi muốn trình bày lịch sử các linh đạo dành cho các linh mục. Thực ra, các sách báo tài liệu về đường nên thánh của các linh mục không thiếu; gần đây hơn cả là Tông Huấn "Pastores dabo vobis" của Đức Gio-an Phao-lô II, đúc kết các buổi thảo luận của Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới năm 1990 bàn về việc đào tạo linh mục, với chương 3 mang tựa đề là : đời sống thiêng liêng của các linh mục. Tuy nhiên, điều mà chúng tôi muốn làm nêu bật là trải qua lịch sử đã có những linh đạo khác nhau, những khuôn mẫu khác nhau được đề ra cho các linh mục. Chúng ta hãy lượt qua bốn giai đoạn chính: 1) Giáo Phụ; 2) trung cổ; 3) cận đại; 4) hiện đại. 

1/ Giáo Phụ. 

Các Giáo Phụ trình bày con đường nên thánh cho các linh mục qua việc bắt chước Đức Ki-tô tư tế, trung gian và mục tử. Các linh mục hãy bắt chước Đức Ki-tô qua sự phục vụ (diakonia), tự hủy (kenosis). Đường nên thánh của các linh mục hệ tại phục vụ Giáo Hội với con tim trong trắng, sống trung thành với Chúa Thánh Thần đã lãnh nhận khi lãnh chức thánh. Sự phục vụ của các linh mục được diễn tả qua việc giảng Lời Chúa, cử hành nhiệm tích, điều khiển các cộng đồng. Trong những tác phẩm cổ điển về tác vụ linh mục cần phải kể : "De Sacerdotio", gồm 6 quyển của thánh Gio-an kim khẩu, viết khoảng năm 386. Tác giả phân tích tiếng "sacerdotium" để bàn đến sứ vụ của linh mục như là người dâng hy lễ (sacrificator), được thánh hóa và thánh hiến (sanctificatus, consacratus) để phục vụ Chúa qua việc phụng tự và mục vụ. Các nhân đức cần làm nổi bật là : bác ái của người mục tử, khó nghèo, thanh khiết, khôn ngoan, hiền hậu, tinh thần cầu nguyện. Kế đến là thánh Am-rô-xi-ô (333-397) qua quyển "De officiis ministrorum", bàn về các quy tắc luân lý cụ thể của đời sống linh mục. Am-rô-xi-ô nhấn mạnh tới việc chú ý tới người nghèo như là một cách cụ thể để diễn tả đức ái. Đề tài về người mục tử nhân lành được thánh Âu-tinh (345-430) khai triển đặc biệt trong hai tác phẩm "De civitate Dei" và "Confessiones". Linh mục nên thánh qua việc phục vụ Giáo Hội, sự phục vụ bắt nguồn từ tình yêu. Linh mục đứng đầu cộng đồng để phục vụ, đi mưu cầu thiện ích cho hết mọi người. Âu-tinh là tác giả của câu nói bất hủ : Vì anh chị em mà tôi làm Giám mục, cùng với anh chị em tôi là một tín hữu Ki-tô. Một tác phẩm cổ điển nữa là "Regula Pastoralis" của thánh Ghê-gô-ri-ô cả (540-604). Ngài chú trọng đến các nhân đức cần thiết để thực hiện sứ mạng giảng Lời Chúa và cử hành Thánh Thể. Muốn giảng Lời Chúa thì cần phải cầu nguyện chiêm niệm; để cho lời giảng đáng tin cậy, cần được thúc đẩy bởi lòng nhiệt thành và đời sống khó nghèo. 

Ngoài ra, ta cũng không nên quên rằng vào thời các Giáo Phụ, thường thường các linh mục sống hợp đoàn với nhau. 

2/ Trung cổ. 

Sang thời Trung cổ, đời sống cộng đoàn của các linh mục tan rã. Các Giáo Hoàng và các Công Đồng cố gắng chấn chỉnh qua việc cổ võ hình thức đời sống kỷ luật và khó nghèo, gọi là vita canonica, mà tiếng Việt dịch sai là "kinh sĩ". Vita canonica có nghĩa là sống theo kỷ luật (canones), dành cho các giáo sĩ, đối lại với vita monastica dành cho các đan sĩ. Vào thời này, sự phân biệt giữa linh mục Dòng và linh mục Triều coi như không đáng kể. Từ thế kỷ thứ 12, các Công Đồng La-tê-ra-nô bắt đầu để ý tới việc đào tạo linh mục qua những trường nhà thờ chánh tòa và các đại học. Việc đào tạo nhằm tới khía cạnh thần học và mục vụ lẫn đạo đức. Sang thế kỷ thứ 13 thì ta thấy những thiên tổng luận về thần học linh mục, nhấn mạnh tới bản chất của chức linh mục nhiều hơn là tới đời sống. Thần học về chức linh mục đào sâu về ấn tín (character), biến đổi linh mục nên giống Đức Ki-tô, cấp cho linh mục khả năng tác động nhân danh Đức Ki-tô (in persona Christi). Linh mục trở nên dụng cụ của Đức Ki-tô ban ơn thánh bí tích, tham gia vào vai trò trung gian của Đức Ki-tô. Ngoài ấn tín ra, khi lãnh chức thánh, linh mục cũng nhận được ơn thánh đặc biệt để có thể chu toàn sứ mạng của mình, phục vụ bí tích Thánh Thể, và phục vụ Nhiệm Thể Đức Ki-tô là Hội Thánh. Hậu nhiên, linh mục giả thiết đã nên thánh rồi ngõ hầu có thể hướng dẫn những người khác trên đường thánh thiện. Dù sao đi nữa, linh mục có nghĩa vụ và khả năng nên thánh nhờ ơn thánh của bí tích và chức vụ mà Chúa không từ chối cho những người Ngài chọn. Từ những suy tư thần học ấy, được thánh Tô-ma A-qui-nô hệ thống hóa, không lạ gì mà phát sinh cả một tâm thức bình dân về sự tôn kính dành cho các linh mục, bởi lẽ các vị là tác viên phân phát ơn thánh Chúa, ban Mình Máu Chúa cho các tín hữu. Hai vị đại thánh Phan-xi-cô €t-xi-di và Ca-ta-ri-na Xi-ê-na, những người đã hô hào việc cải tổ Hội Thánh, cải tổ hàng giáo sĩ, đã dành những trang rất đẹp để nói về thiên chức linh mục. 

3/ Cận đại. 

Những phong trào cải cách Giáo Hội vào thời Công Đồng Tren-tô không thể bỏ qua việc cải tổ đời sống linh mục. Nhiều phong trào linh đạo cổ võ sự thánh thiện linh mục ra đời dưới nhiều hình thức khác nhau. Tại miền Bắc âu, phong trào gọi là "Devotio moderna", tiêu biểu nơi quyển De Imitatione Christi đã đề cao việc nên thánh qua việc bắt chước các nhân đức của Chúa Giê-su, việc cầu nguyện suy gẫm, chú trọng vào sự giảng dạy, linh hướng, các việc đạo đức, xa lánh thế gian. Về điểm chót này, đã có nhiều người chỉ trích, xét vì linh mục đâu có thể sống như các đan sĩ xa lánh đời được. 

Một phong trào khác cổ võ đời sống thánh thiện của các linh mục là các Dòng giáo sĩ kỷ luật (clerici regulares). Họ là những giáo sĩ, sống chung với nhau, với lời khấn dòng, và đặt nặng việc thực hành các chức vụ linh mục như là phương thế để nên thánh : giảng dạy, ban bí tích, làm việc tông đồ. Nói khác đi, linh mục nên thánh qua việc thực hành tác vụ của mình, chứ không phải qua việc bắt chước các thày dòng khổ tu. 

Riêng về Công Đồng Tren-tô, thì một đàng ta thấy có những chương tín lý bàn về các bí tích, trong đó có bí tích Truyền Chức dựa theo đạo lý của thánh Tô-ma; và đàng khác là những Sắc Lệnh về kỷ luật giáo sĩ. Công Đồng muốn cho các linh mục tận tâm thi hành chức vụ của mình, cách riêng là việc giảng dậy và cử hành bí tích; cần phải hiểu biết tình hình của đoàn chiên, chú ý tới người nghèo, người bị bỏ rơi. Các linh mục phải chuyên chăm cầu nguyện, thực hành nhân đức. Thêm vào đó, Công Đồng Tren-tô cũng truyền thiết lập chủng viện để đào tạo linh mục. - Những sử gia ghi chú rằng việc áp dụng các Sắc Lệnh Công Đồng Tren-tô về đời sống linh mục rất là chậm chạp. Các linh đạo về đời linh mục cũng như các gương thánh thiện phát triển từ các trường phái Dòng Tu cũ hay mới : Biển Đức, Đa Minh, Phan-xi-cô, Âu-tinh, Cát-minh, I-nha-xi-ô. Đặc biệt hơn cả là trường phái linh đạo của Pháp vào thế kỷ XVII, với những tác giả như : Pierre de Bérulle, Jean Eudes, Jean Jacques Olier, Vincent de Paul, Francois de Sales, Louis Marie Grignion de Montfort. Đặc trưng của trường phái này là trình bày linh mục như là người tham dự vào Đức Ki-tô tư tế và hy lễ. Linh mục tham dự vào bản thể, hoạt động và nội tâm của Đức Ki-tô nhập thể, tử nạn và phục sinh. Linh mục bắt chước Đức Ki-tô nhìn tới ba đối tượng : hướng lên Chúa Cha để tìm hiểu chương trình cứu chuộc; hướng đến nhân loại để cứu chuộc họ và hướng đến bản thân để dâng hiến mình làm hy lễ. Linh mục cũng cần có lòng thảo hiếu với Đức Ma-ri-a, thân mẫu của Đức Ki-tô linh mục. Ảnh hưởng của trường phái Pháp rất lớn không những qua các tác phẩm của các tác giả nói trên, mà còn qua các chủng viện mà các vị thành lập và điều khiển. 

Những khuôn mẫu linh mục thánh thiện không thiếu trong thời đại cận đại, từ các Giám Mục, cha sở cho tới các nhà truyền giáo tử đạo. 

4/ Hiện đại. 

Trong thế kỷ XX này, bên trên các trường phái linh đạo, ta phải kể tới các Thông Điệp, Tông Huấn của các vị Giáo Hoàng gửi cho các linh mục. Trong những văn kiện quan trọng hơn cả ta có thể kể : Thông Điệp "Haerent animo" của Đức Pi-ô X (8/8/1908), Thông Điệp "Ad Catholici Sacerdotii" của Đức Pi-ô XI (20/12/1935), Tông Huấn "Menti nostrae" của Đức Pi-ô XII (23/9/1950), Thông Điệp "Sacerdotii nostri primordia" của Đức Gio-an XXIII (1/8/1959) nhân dịp kỷ niệm 100 năm thánh Gio-an Vi-a-nê qua đời. 

Những văn kiện của Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã thu lượm những thành quả trước đó của thần học về chức linh mục, dựa trên nền tảng Kinh Thánh, Phụng Vụ, Giáo Phụ. Sau Công Đồng, những cuộc khủng hoảng về chức vụ và đời sống linh mục đã thúc đẩy các vị Giáo Hoàng Phao-lô 6 và Gio-an Phao-lô 2 nhiều lần lên tiếng. Đức Phao-lô 6 với Thông Điệp Sacerdotalis coaelibatus (1967) về sự độc thân linh mục và sự triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971 để bàn về chức linh mục, Đức Gio-an Phao-lô 2 thì có thói quen gửi một lá thư cho các linh mục hằng năm nhân ngày thứ năm tuần thánh, và dành khóa họp Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1990 để bàn về sự đào tạo linh mục. Điều đáng để ý là khi bàn về linh đạo linh mục, đa số các văn kiện vừa nói đặt trước mắt hình ảnh của các linh mục triều, vì vậy một nét được nhấn mạnh trong đời sống thiêng liêng và hoạt động tông đồ của họ là sự thông hiệp với Giám Mục và linh mục đoàn (presbyterium) của giáo phận. Người ta giả thiết các linh mục Dòng đã có linh đạo riêng của Dòng mình rồi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây người ta có vài sự chuyển hướng trong các sách tu đức dành cho các linh mục, ít là có hai điểm sau : 

1) việc nhấn mạnh tới ba lời khuyên Tin Mừng trong đời sóng linh mục (vâng lời, khiết tịnh, khó khăn PO 15-17, Pastores dabo vobis số 27-30); đời sống cộng đồng ít là qua những cuộc gặp gỡ trong khuôn khổ các hiệp hội cũng được khuyến khích; như vậy ta thấy có những điểm chung giữa đời sống linh mục và tu sĩ. 

2) Một số Dòng Tu cũng xét lại ơn gọi của họ. Đành rằng các đan sĩ lúc đầu là giáo dân, sau đó mới trở thành giáo sĩ; nhưng một số Dòng được thành lập do các linh mục nhằm sống và thi hành sứ vụ của mình cách mỹ mãn hơn nhờ kỷ luật Dòng Tu và đời huynh đệ cộng đồng. 

* * * 

Trải qua các thời đại khác nhau trong lịch sử, ta có thể nói rằng bức chân dung lý tưởng của linh mục là người mục tử nhân hậu, đồng hành với Hội Thánh trên đường lữ thứ. Bộ mặt của người mục tử có thể được phát biểu dưới những khía cạnh khác nhau, do ảnh hưởng của thời đại và nơi chốn. Dù vậy ta có thể tạm phác họa bức chân dung của linh mục thánh thiện theo những nét mà Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô 2 mô tả trong Tông Huấn "Pastores dabo vobis" (số 33) : "Thánh thiện có nghĩa là thân mật với Chúa, là bắt chước Đức Ki-tô khó nghèo, khiết tịnh, khiêm nhường, là yêu mến các linh hồn không bờ bến, hiến thân mình cho họ; là yêu mến Giáo Hội Thánh và muốn ta nên thánh." 

III. Linh đạo của các tu sĩ. 

Sau khi đã nói qua những vấn đề về linh đạo dành cho các giáo dân và linh mục, chúng ta bước sang linh đạo cho các tu sĩ. Trong mục tìm hiểu Giáo Luật, bàn về đời sống tận hiến, chúng tôi đã và đang nêu lên những vấn đề gợi lên trong lãnh vực này. Dù vậy, thiết tưởng không phải là thừa khi vạch ra những đường hướng không những của thần học về đời tận hiến cho bằng của thực tại sinh hoạt của họ từ những năm sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II. 

Giai đoạn hậu Công Đồng phải nói được là rất phong phú cho sự suy tư về đời tận hiến, khi mà các Dòng Tu phải duyệt lại Hiến Pháp của họ, tìm về nguồn gốc, lịch sử, đặc sủng của họ cũng như tìm cách diễn tả sứ mạng của họ trong thời đại hôm nay. Thực ra việc trở về nguồn và thích nghi với thời đại không phải lúc nào cũng dễ. Đại khái đâu đâu cũng gặp thấy hai khuynh hướng : một bên thì chú trọng tới trung thành với truyền thống (tạm gọi là bảo thủ) và bên kia thì nhấn mạnh hơn tới thích nghi với thời đại (tạm gọi là cấp tiến). Có những Dòng may mắn đã tìm được sự dung hòa giữa hai khuynh hướng; nhưng cũng có những Dòng mà hai bên không thể sống chung được, với hậu quả là hoặc buộc phải tách làm hai, hay một bên thắng thế và bên kia xin hồi tục. Ngoài hiện tượng đó, các Dòng Tu còn phải đương đầu với những trào lưu tục hóa tại Âu Mỹ, sự dấn thân xã hội tại Mỹ châu La-tinh và sự du nhập văn hóa tại ã Phi. Đó là những yếu tố đóng góp vào việc suy tư về đời sống tận hiến. 

1/ Thần học đời tu tại Âu Mỹ. 

Không ai chối cãi được là phần lớn các tác phẩm về thần học đời tu đã ra đời tại các nước Âu Mỹ. Hai mối ưu tư chính của họ là : 

a) giá trị đời tận hiến trong thế giới tục hóa; 

b) trong lòng Giáo Hội, ơn gọi tận hiến khác các ơn gọi khác như thế nào (tỉ như ơn gọi của các giáo dân, của bậc hôn nhân). 

Cũng như thần học nói chung, thần học về đời tu cần dựa trên nền tảng Kinh Thánh, Thánh Truyền. Tuy nhiên, có nhiều đường lối để đọc và phân tích Kinh Thánh và các văn kiện Huấn Quyền. Ta tạm ghi nhận hai đường lối chính : đường lối thứ nhất chú trọng tới bản thể (essentialista) : cái gì cấu tạo nên bản chất đời tu, cái gì làm cho đời tu khác biệt với các hình thức khác ? Đường hướng thứ hai thì chú trọng tới những dự án cụ thể cho đời sống, có tính cách hiện sinh hơn (existentialista). Khuynh hướng này nhấn mạnh tới sứ mạng, sự phục vụ, sự thông hiệp, sự cầu nguyện. Họ nhận thấy rằng có nhiều đường lối sinh hoạt khác nhau giữa các Dòng Tu trải qua lịch sử, vì vậy họ chủ trương rằng không thể chỉ có một nền thần học chung cho tất cả đời tu, nhưng có rất nhiều thần học về đời tu, tỉ như thần học của nếp sống đan tu, thần học của nếp sống tông đồ, v.v... 

Bên cạnh những đường hướng suy tư thần học, có tác giả còn muốn ghi nhận có những đường hướng trong lối sống của các tu sĩ, lần lượt kế tiếp nhau từ Công Đồng Va-ti-ca-nô II cho tới nay. Bruno Secondin nói tới 6 giai đoạn trong vòng 25 năm qua : 

1) Trong khi Công Đồng còn đang nhóm họp, người ta đã nhận thấy một khuynh hướng phản định chế (déinstitutionalisation), ra như để phản ứng lại một bầu khí nặng về cơ cấu pháp luật hồi đó. Những quyển Hiến Pháp được viết lại liền sau khi Công Đồng bế mạc ra như không còn khoản Giáo Luật nào nữa, mà chỉ toàn những tư tưởng Thánh Kinh và lời khuyên tu đức. Các tu viện lớn được giải tán, nhường chỗ cho các cộng đồng nho nhỏ. Dĩ nhiên, áo dòng và lúp che đầu cũng biến luôn. 

2) Giai đoạn hai chú trọng đến vai trò của nhân vị. Đây là thời kỳ của đối thoại. Người ta không còn muốn nghe nói tới bề trên bề dưới nữa, nhưng chỉ còn các "chị phụ trách cộng đoàn", mà quyền hành coi như không có gì. Các thời khóa biểu cộng đoàn có tính cách mềm dẻo, xét vì mỗi người bận một công việc khác nhau, nên không thể giữ một giờ giấc chung như trước nữa. 

3) Giai đoạn ba, từ những năm 1968-1973, người ta bắt đầu chú trọng tới vai trò của cộng đồng, đời sống huynh đệ. Cộng đồng tu sĩ không phải chỉ là quán trọ hay khách sạn. Cộng đồng có giá trị thiêng liêng của nó nữa. Sự suy tư về cộng đồng được khêu gợi lên vào lúc mà trong Giáo Hội nảy lên nhiều phong trào giáo dân (Focolarini, Tân Dự Tòng, Đặc Sủng Thánh Linh, v.v..), cũng như Giáo Hội học bắt đầu khám phá chiều kích "thông hiệp". 

4) Giai đoạn kế đó kéo dài cho tới năm 1980 dần dần nhấn mạnh hơn tới vai trò của các tu sĩ trong Giáo Hội, về những công tác tông đồ của các Dòng. Trước đây nhiều Dòng đã được lập ra để dạy học, săn sóc bệnh nhân; nhưng do sự sụt giảm ơn gọi hoặc những phí tổn quá lớn để duy trì các cơ sở, các Dòng đó đã xét lại lý do của các công tác đó : việc duy trì hay bãi bỏ các cơ sở ấy có ảnh hưởng gì tới đặc sủng của Dòng ? có cần duy trì các hình thức cổ truyền thì mới phục vụ Giáo Hội được hay có thể nghĩ tới những hình thức mới ? 

5) Với sự ban hành bộ Giáo Luật năm 1983, cũng như xem ra mệt mỏi sau những cuộc thử nghiệm với nhiều bản hiến pháp xóa đi viết lại, người ta dần dần muốn trở lại khuôn phép, định chế. 

6) Sau cùng, giai đoạn hiện tại nhấn mạnh hơn tới việc huấn luyện đào tạo, cũng như dấn thân cho cuộc rao truyền Tin Mừng mới. Tiếc rằng, con số nhân sự sụt xuống một cách đáng lo ngại tại nhiều miền, khiến cho những kế hoạch đào tạo và truyền giáo gặp nguy cơ là trở thành chữ chết. 

2/ Thần học đời tu tại Mỹ châu La-tinh. 

Thần học giải phóng tại lục địa đã có âm hưởng không nhỏ đối với thần học về đời tu. Đời tu cần phải xen vào xã hội của người nghèo, xã hội hứng chịu nhiều cảnh bất công, vô nhân đạo. Người ta nhận thấy thần học đời tu tại đây mang ba sắc thái nổi bật như sau : 

1) Đời tu phải mang sắc thái ngôn sứ. Sự khó nghèo phải mang tính chất phản kháng những bất công xã hội, và đứng ra bênh vực người nghèo. Sự trinh khiết phải được diễn tả ra bằng thái độ tiếp đón hết mọi người, cách riêng những kẻ bị bỏ rơi. Sự vâng lời có nghĩa là tìm ý Chúa trong lịch sử cuộc đời, nhờ cộng đồng. Đời sống cộng đồng là hình thức liên đới và thông hiệp chống lại xã hội phân hóa vì ích kỷ. 

2) Đời tu phải bộc lộ việc đi theo Đức Giê-su lịch sử trong khung cảnh lịch sử cụ thể của Mỹ châu la-tinh : người tu sĩ đi theo Đức Giê-su như nhà giải phóng bằng việc chấp nhận đứng về phía người nghèo. 

3) Đời tu phải biểu lộ sắc thái cánh chung của công lý Thiên Chúa. Đời tu phải diễn tả việc Thiên Chúa gần gũi con người, mang lại nước công bằng cho người nghèo dẹp tan những bất công. 

3/ Thần học đời tu tại Phi châu 

Chia sẻ với những thách đố đặt ra cho Giáo Hội Phi châu, thần học đời tu ở đây đã vạch ra hai mục tiêu chính : a) làm sao cho Ki-tô giáo mang lấy bộ mặt Phi châu, thu thập những giá trị cổ truyền; b) làm sao đương đầu với cảnh sống lầm than lam lũ của đa số nhân dân. 

1) Thần học đời tu Phi châu đã cố gắng thu nhận những giá trị của văn hóa và tôn giáo cổ truyền : tỉ như tinh thần gia đình, liên đới; những cách thức tế tự cầu nguyện; sống hòa hợp với thiên nhiên. 

2) Chấp nhận sự thách đố của người nghèo có nghĩa là chia sẻ cảnh sống với họ. Chấp nhận sự thách đố của người nghèo cũng có nghĩa là dấn thân cổ võ sự thăng tiến con người qua những kế hoạch phát triển, giáo dục. Ngoài ra, khi nói đến cảnh nghèo của nhân dân không thể bỏ qua những nguyên nhân và hậu quả của nó, tỉ như sự kỳ thị chủng tộc, các chế độ độc tài quân phiệt; hậu nhiên, khuynh hướng thần học giải phóng cũng có ảnh hưởng trong thần học đời tu ở Phi châu. 

4/ Thần học đời tu tại ã châu. 

Ngoài thực tại nghèo đói còn đang hoành hành tại nhiều nơi tại € châu, cách riêng ở những khu ổ chuột bên cạnh các đô thị tân tiến, khiến cho các tu sĩ đặt ra những câu hỏi gần giống các đồng nghiệp ở các nước thuộc thế giới thứ ba, một đặc trưng của thần học đời tu € châu là các giá trị tu hành của các tôn giáo lớn, tỉ như }n giáo, Phật giáo, Hồi giáo. Hiện tượng nghèo đói kém phát triển đòi hỏi các tu sĩ phải dấn thân nhiều hơn; nhưng mặt khác, sự tiếp xúc với các tôn giáo lớn đòi hỏi các tu sĩ sống đời chiêm niệm sâu xa để khỏi bị đồng hóa với những chuyên viên xã hội. 

Thiết tưởng khi đọc bản dự thảo (Lineamenta) hay tài liệu làm việc (Instrumentum laboris) hoặc các phát biểu tại Thượng Hội Đồng Giám Mục 1994, chúng ta nên ý thức rằng các vấn đề đặt ra cho thần học đời tu có những khác biệt giữa Công Đồng Va-ti-ca-nô II với ngày hôm nay. Tuy thói quen của các văn kiện Tòa Thánh là trưng dẫn các văn kiện đã ra đời trước đó, nhưng nhiều vấn đề đặt ra hồi Công Đồng thì nay đã khác. Ngoài ta, như chúng ta đã thấy, mỗi lục địa có những bận tâm thách đố riêng. Dĩ nhiên, điều này càng đúng hơn nữa với đời sống các tu sĩ tại Việt Nam, trước và sau Va-ti-ca-nô II, trước và sau 1975. Và chúng ta đừng mong tìm thấy những nét tương tự nơi đời tu ở Trung Hoa, Đại Hàn, Phi Luật Tân, còn nói chi tới nước Pháp, Tây ban nha. 

Trước khi kết thúc, thiết tưởng cũng cần nhắc tới một yếu tố mới của thần học đời tu hiện đại : đó là tiếng nói của nữ giới. Xưa này nhiều Hiến Pháp các Dòng Nữ đã do các vị lập dòng (người nam) hay giáo quyền viết ra. Nhưng từ nay, ván cờ đã lật ngược. 

Thư mục 

JUAN ESQUERDA BIFET, Historia de la espiritualidad sacerdotal, Aldecoa Burgos 1985 (Teologia del Sacerdocio 19). 

MARIO MIDALI, La teologia della vita consacrata dal Va-ti-ca-nô II a oggi, in : "Vita Consacrata" 28 (1992) 312-327. BRUNO SECONDIN, Prospettive attuali della teologia della vita consacrata, ibid. p.522-531.
Continue Reading...

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

LINH ĐẠO GIÁO DÂN

LINH ĐẠO GIÁO DÂN

Lm. Giuse Phạm Quốc Văn, OP. 

DẪN NHẬP 

Khởi đi từ những mệnh lệnh của Tin mừng: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại?… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không thể nào che dấu được” (Mt 5,13 - 14), thiết tưởng những Lời này phù hợp với người giáo dân hơn cả; họ là những con người sống giữa lòng trần thế, là muối, là ánh sáng cho đời, là “những nắm men” đang làm cho thế giới dậy men Tin mừng (Xc. Mt 13,13). Dưới ánh sáng Công đồng Vatican II, một Công đồng đầu tiên trong lịch sử Giáo hội, lưu tâm và đề cao vai trò của người giáo dân giữa lòng trần thế, chúng ta phác thảo một nền linh đạo giáo dân. 


Trước tiên, chúng ta xác định người giáo dân là ai; kế đến, tìm hiểu vị trí của người giáo dân trong Giáo hội; và cuối cùng xác định linh đạo giáo dân qua vai trò và sứ mạng của người giáo dân giữa lòng trần thế; đồng thời cũng vạch ra những thách đố và một vài gợi hướng để suy tư. 

I. NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ AI? 

1. Khởi đi từ một cách nhìn tiêu cực 

Xưa nay, người giáo dân không được nhìn nhận và đánh giá một cách đúng mức; họ thường được định nghĩa cách tiêu cực: giáo dân là những tín hữu không làm linh mục, không khấn dòng. Hồng y Gasquet, trong quyển “The Layman in the Pre-Reformation Parish” – “Giáo hội trong thời kỳ tiền cải cách giáo xứ”, đã kể mẩu truyện dí dỏm: 

Một Kitô hữu dự tòng hỏi linh mục: “Vai trò của giáo dân trong Giáo hội như thế nào?” 

Linh mục trả lời: “Giáo dân có hai vai trò, thứ nhất: quỳ trước bàn thờ; thứ hai: ngồi quay mặt về toà giảng”. 

Sau đó Đức hồng y còn hài hước thêm: người ta còn quên vài trò quan trọng nữa của người giáo dân là đưa tay vào túi móc tiền ra bỏ vào rổ! [1] 

Quả thực, suốt nhiều thế kỷ, người giáo dân như “một người ở trọ” ngay trong chính nhà của mình! Trong bối cảnh một xã hội “nặng óc gia trưởng”, một Giáo hội thượng tôn hàng giáo sĩ, thì vai trò người giáo dân thật là mờ nhạt. Trong đời sống đức tin, giáo dân đóng vai trò thụ động, mang tâm trạng được ban phát. Vô tình, đức tin bị tách ra khỏi đời sống xã hội; chỉ có Tin mừng ở nhà thờ, nơi toà giảng; chứ không thể có Tin mừng nơi công sở, nơi phố chợ hay sạp cá! Và ngay cả việc nên thánh cũng là đặc quyền của hàng giáo sĩ, giới tu hành; giáo dân hoàn toàn lo việc đời và thuộc về thế gian, muốn nên thánh thì phải rập khuôn theo nếp sống của những bậc tu hành. Một não trạng như thế khá phổ biến nơi phần đồng những tín hữu đơn thành, chân chất. 

Thiết tưởng, chúng ta cần vượt qua những quan niệm thiển cận như thế, người giáo dân phải được trả lại vị trí đúng đắn của mình, vì họ có một nền linh đạo, hay một đường hướng nên thánh đặc thù, chứ không phải là một thứ bản sao của hàng giáo sĩ. 

Chúng ta tìm hiểu cách nhìn tích cực này về người giáo dân dưới ánh sáng của Công đồng Vatican II. 

2. Cách nhìn tích cực về người giáo dân dưới ánh sáng Công đồng Vatican II 

Công đồng Vatican II (Hiến chế về Hội thánh, số 31), định nghĩa người giáo dân cách tích cực: giáo dân là tín hữu sống giữa đời, đặc trưng của giáo dân là trần thế. 

Tuy nhiên, không ít tác giả phản ứng lại định nghĩa này, vì không chỉ có giáo dân mới sống giữa đời, mà ngay cả giáo sĩ, tu sĩ cũng sống giữa đời (thế giới của họ đâu phải là sa mạc hay cung trăng đâu!). Hơn nữa, phải hiểu thế nào là “giáo dân”, trẻ mới rửa tội đã là giáo dân, hay phải là người tín hữu trưởng thành?… 

Theo cha Hans Urs Von Balthasar, thì không có linh đạo nào đặc trưng của giáo dân cả, họ chỉ là những tín hữu và gắng nên thánh trong những điều kiện sinh sống cụ thể hằng ngày.[2] 

Như vậy, người giáo dân là ai? Họ có sứ mạng gì không? Để trả lời câu hỏi “người giáo dân là ai?”, Công đồng Vatican II đã loại bỏ giải pháp dễ dãi của một định nghĩa tiêu cực, mà nhìn nhận vai trò người giáo dân một cách tích cực hơn. Công đồng bày tỏ ý hướng nền tảng của mình qua việc khẳng định rằng người giáo dân hoàn toàn thuộc về Giáo hội, cũng như thuộc về mầu nhiệm của Giáo hội; và nét đặc trưng trong ơn gọi của họ có mục đích riêng là “tìm kiếm nước Thiên Chúa bằng cách quản trị các sự việc trần thế và xếp đặt chúng theo thánh ý Thiên Chúa một cách đặc biệt”.[3] 

Hiến chế Ánh sáng muôn dân quảng diễn tư tưởng trên như sau: 

Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả giáo hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì [4]được Giáo hội công nhận: nghĩa là những Kitô hữu đã được tháp nhập vào thân thể Chúa Kitô nhờ phép Thanh tẩy, đã trở nên Dân Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô theo cách thức của họ; họ là những người đang thực hiện sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Giáo hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình.[5] 

Đức Piô XII, trong diễn từ đọc trước các tân Hồng y (20.2.1946), đã khẳng định: 

Các tín hữu, hay chính xác hơn, người giáo dân, có mặt ở hàng ngũ tiên phong trong đời sống Giáo hội; nhờ họ, Giáo hội trở thành nguyên lý sống động cho xã hội nhân loại. Chính vì thế, họ là những người trước hết phải có một ý thức luôn luôn sáng suốt rằng không những mình thuộc về Giáo hội, mà còn là chính Giáo hội, tức là cộng đoàn tín hữu trên trần gian, dưới sự lãnh đạo của một vị thủ lãnh chung, là Đức giáo hoàng, và các vị Giám mục hiệp thông với ngài. Người giáo dân là Giáo hội.[6] 

Khẳng định trên của Đức thánh cha đã gây ý thức và có ảnh hưởng lớn trong Giáo hội. Về sau, Thượng hội đồng Giám mục 1987, và Tông huấn “Kitô hữu giáo dân” của Đức Gioan Phaolô II cũng đã nhắc lại ý tưởng đó.[7] 

Từ một góc nhìn mới mẻ về người giáo dân như thế, chúng ta tìm hiểu về vị trí của họ trong Giáo hội. 

II. VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI 

Trước khi tìm hiểu về vị trí của người giáo dân, thiết tưởng chúng ta cần xác định lại quan điểm thế nào là Giáo hội; bởi vì đã có không ít những quan điểm phiến diện, lệch lạc. Công đồng cho chúng ta lối nhìn căn bản: 

1. Giáo hội là Dân Thiên Chúa 

“Dân Thiên Chúa” là một ý niệm giữ vị trí then chốt trong toàn thể tư tưởng của Hiến chế Ánh sáng muôn dân. Ý niệm này được xây dựng trên nền tảng lịch sử và Kinh thánh: từ một dân tộc được Chúa chọn làm Dân riêng, đến một Giáo hội lữ hành tiến về quê trời như Dân riêng tiến về đất hứa. Giáo hội chính là một Dân mới có tính phổ quát và hoàn hảo hơn, đó cũng chính là Dân Chúa chọn để làm nên một “dân tư tế, dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa” (1 Pr 2,9). 

Hạn từ “Dân Thiên Chúa” gợi lên cho chúng ta cách nhìn xuyên suốt, liên tục trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Giáo hội là Israel mới, là dân cánh chung; và mọi người luôn được mời gọi gia nhập dân này qua bí tích Thánh tẩy, và được mang một danh xưng đặc biệt: người Kitô hữu. 

“Dân Thiên Chúa” cũng là một hạn từ có khả năng diễn tả sống động hình ảnh cụ thể của Giáo hội, hình ảnh một đoàn dân quy tụ.[8] Cách nhìn này cho thấy sự bình đẳng của mọi người tín hữu, đánh đổ một lối nhìn về Giáo hội theo lối hình chóp; hoăc lối nhìn chỉ thấy Giáo hội là hàng giáo phẩm. 

Ngoài hình ảnh sống động Giáo hội là dân Thiên Chúa, Giáo hội còn được diễn tả là Nhiệm thể Chúa Kitô;[9] trong nhiệm thể này, các chi thể đều bình đẳng và được tôn trọng như nhau. Từ nền tảng hai ý niệm quan trọng này về Giáo hội, chúng ta tìm hiểu vị trí của người giáo dân trong Giáo hội. 

2. Vị trí căn bản của người giáo dân trong Giáo hội 

Sau Công đồng Vatican II, một Thượng hội đồng giám mục đã nhóm họp vào tháng 10 năm 1987 để bàn về ơn gọi và sứ mạng người giáo dân trong Giáo hội và thế giới; thành quả được đúc kết trong Tông huấn Christifideles laici, do Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 31.12.1988. Trong văn kiện, chân dung người tín hữu giáo dân được diễn tả qua vị trí của họ trong Giáo hội nhìn từ ba chiều kích: mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ.[10] 

- Chiều kích mầu nhiệm: Người giáo dân được hưởng trọn vẹn phẩm giá của Kitô hữu, nghĩa là con cái của Thiên Chúa, thân thể của Đức Kitô, đền thờ của Chúa Thánh Thần (số 11-13). Họ được thông dự vào ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô (số 14)[11], vì là đền thờ của Chúa Thánh Thần, nên người giáo dân được mời gọi nên thánh bằng cách phát triển những hoa trái của Thánh Linh (số 16).[12] 

- Chiều kích hiệp thông: người giáo dân được lãnh những đặc sủng khác nhau, tất cả những đặc sủng này đều nhằm mưu ích cho cộng đoàn, xây dựng, duy trì những mối dây liên kết với những phần tử khác trong các cấp độ cộng đoàn khác nhau (giáo họ, giáo xứ, giáo phận, Giáo hội hoàn vũ).[13] 

- Chiều kích sứ vụ: người giáo dân tham gia vào sứ mệnh của Giáo hội trong thế giới, đặc biệt nơi những môi trường mà Tin mừng chưa thấm nhập: những môi trường ngoài Kitô giáo; những môi trường phản kháng, chống đối Kitô giáo …[14] 

Liên kết ba chiều kích trên, ta thấy người giáo dân có một vị trí đặc biệt trong Giáo hội, người giáo dân là chính Giáo hội,[15] là Dân Thiên Chúa, là thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô, họ bình đẳng với mọi thành phần khác về vị trí và giá trị như bất cứ thành phần nào trong Thân Thể Huyền Nhiệm.[16] 

III. LINH ĐẠO GIÁO DÂN 

Nếu người giáo dân có vị thế căn bản trong Giáo hội, thì cũng có một linh đạo dành riêng cho họ. Linh đạo này được đặt nền trên bí tích Thanh tẩy. 

1. Nền tảng căn bản: Bí tích Thánh tẩy 

Khi lãnh nhận bí tích Thanh tẩy, người Kitô hữu được chia sẻ ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô. Tuy nhiên, người giáo dân, do tính cách trần thế, đã hành xử ba chức vụ này khác với hàng giáo sĩ. Chúng tìm hiểu nét đặc thù của từng vai trò đó. 

a. Vai trò tư tế 

Chúa Kitô là vị thượng tế duy nhất, duy mình Người mới có thể dâng lên Chúa Cha hiến lễ đích thực có giá trị vĩnh viễn cứu độ con người. Tuy nhiên, Đức Giêsu cũng trao quyền tế lễ cho các thừa tác viên của Người khi thiết lập tác vụ linh mục. Để thi hành chức vụ này cách trọn vẹn, Đức Giêsu mời gọi một dân là Giáo hội, dân được thánh hoá để trở thành dân thánh, dân tư tế (Xc. 1Pr 2,9). 

Người giáo dân được chia sẻ chức tư tế Chúa ban cho Giáo hội, gọi là chức tư tế cộng đồng[17]. Nhờ chức tư tế này, người giáo dân có thể thực sự thánh hoá đời sống mình, thánh hoá mọi sinh hoạt trần thế, mọi chức vụ, và ngay cả những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Tất cả được kết hợp với hiến tế duy nhất của Đức Kitô, dâng lên Chúa Cha, để nên lời ca khen chúc tụng cũng như mang lại ơn cứu độ cho chính mình và cho nhân loại.[18] 

Mọi hoạt động, kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công việc làm hằng ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu Kitô.[19] 

b. Vai trò ngôn sứ 

Ngôn sứ hay tiên tri là những người được Chúa tuyển chọn, thay mặt Chúa để nói Lời và ý muốn của Người cho nhân loại. Đức Giêsu là vị ngôn sứ vĩ đại, Người đến và nói “những điều đã nghe biết nơi Chúa Cha”. Đức Giêsu là điểm thành toàn của tất cả các ngôn sứ; nói cách khác, tất cả các ngôn sứ đều là chuẩn bị và loan báo Đức Giêsu sẽ đến. 

Người giáo dân tham gia vào chức vụ ngôn sứ của Đức Giêsu bằng cách góp phần vào sứ vụ loan báo ý định cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại: họ bày tỏ đức tin và đức ái cho những người chung quanh, trong lãnh vực nghề nghiệp, và nhất là trong đời sống gia đình. 

Được thánh hoá do bí tích Hôn nhân, hai vợ chồng cùng làm chứng cho nhau và con cái về lòng tin và tình yêu của Chúa, để cho gia đình Kitô giáo vừa là nơi huấn luyện tuyệt diệu cho công cuộc tông đồ, vừa bày tỏ sức mạnh của Tin mừng giữa lòng thế giới.[20] 

Thiết tưởng vai trò ngôn sứ của người giáo dân trong thời đại hôm nay, còn là đọc ra ý định của Thiên Chúa qua dấu chỉ và các biến cố của thời đại, một thời đại đầy biến động, đổi thay chóng mặt. Thiên Chúa vẫn ngỏ lời với con người, nhưng điều quan trọng là con người có nhận ra và đáp trả hay không. 

c. Vai trò vương giả 

Đức Giêsu đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết. Khi mọi sự hoàn tất, khi Người tiêu diệt hết mọi quản thần, quyền thần và dũng thần, Người trao lại vương quyền cho Thiên Chúa là Cha, để Thiên Chúa nên tất cả trong mọi sự và cho mọi người (Xc. 1 Cr 15, 20-28). 

Khi lãnh nhận chức vụ vương giả của Đức Kitô, người giáo dân được hưởng một sự tự do đích thực, tự do hào hùng của con cái Chúa, không còn làm nô lệ cho ác thần, và được ban sức mạnh để chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi mình. Chức vụ vượng giả này cũng thúc đẩy người giáo dân có trách nhiệm phải hăng say hoạt động để đưa tất cả mọi anh em của mình về với Thiên Chúa. 

Để thi hành vai trò này, Công đồng nhắc nhở người giáo dân cần phải nhận biết bản tính sâu xa của các thụ tạo, cứu cánh của chúng phải hướng về Thiên Chúa, chờ đợi ngày Thiên Chúa cứu độ trọn vẹn; cho nên người giáo dân giữa môi trường trần thế, cần phải nỗ lực làm cho trần gian thấm nhuần ơn cứu độ của Đức Kitô và đạt tới cùng đích cách hữu hiệu hơn trong công lý, hoà bình và bác ái.[21] 

2. Sứ mạng thánh hóa trần thế 

Có thể nói sứ mạng đặc trưng của người giáo dân là thánh hoá trần thế, là nên men, nên muối cho đời. 

a. Lời mời gọi nên thánh của mọi Kitô hữu 

Nên thánh không phải là đặc quyền của riêng thành phần nào, tất cả mọi người đều được mời gọi trở nên hoàn thiện, và phải trở nên hoàn thiện. Các phương tiện nên thánh của người giáo dân cũng là những phương chung cho tất cả mọi tín hữu: đời sống nhân đức, được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa và các bí tích, việc cầu nguyện, hy sinh, bác ái… và những sinh hoạt hằng ngày; nhờ thế, toàn thể cuộc đời trở nên hiến tế tinh tuyền đẹp lòng Chúa và góp phần thánh hoá nhân loại.[22] 

Người giáo dân nên thánh trong những điều kiện cụ thể của cuộc sống: nơi gia đình, nơi phố chợ, nơi công sở… Nhờ sống đạo giữa lòng nhân loại như vậy, họ góp phần tích cực “Tin mừng hoá” thế giới; một thế giới còn quá nhiều chọn lựa nghịch với giá trị của Tin mừng. Nét đặc trưng của người giáo dân là nên thánh gữa đời, giữa những xô bồ náo nhiệt chứ không phải nơi sa mạc hoang vu hay tu viện bốn bề yên tĩnh. 

b. Tính cách trần thế 

trong sứ sứ mạng của người giáo dân 

Đức Piô XII, trong bài phát biểu tại đại hội thế giới năm 1957, đã đưa ra những nhận định khá rõ nét về tính cách đặc thù trong sứ mạng của người giáo dân: 

Mối tương quan giữa Giáo hội và thế giới đòi phải có sự can thiệp của các tông đồ giao dân. Việc “thánh hiến trần gian”, trong cốt yếu, chính là công việc của người giáo dân, là những người hoà nhập một cách chặt chẽ vào đời sống kinh tế xã hội. 

Nhìn lại lịch sử nhân loại, sau đệ nhị thế chiến, trước một xã hội đổ vỡ tan nát nhưng cũng đang manh nha nhiều yếu tố mới mẻ, Đức Gioan XXIII đề cập đến vai trò người giáo dân như là lời đáp trả tiếng kêu khẩn thiết của thế giới: 

Giáo hội hôm nay phải đương đầu với một trách nhiệm lớn lao: đem sắc thái nhân bản và Kitô giáo vào trong nền văn minh hiện đại, sắc thái mà nền văn minh này đòi hỏi và dường như khẩn khoản nài xin, nhằm lợi ích phát triển và sự hiện hữu của nền văn minh ấy. Giáo hội chu toàn cách trách nhiệm ấy, đặc biệt nhờ các giáo dân, là những người phải cảm thấy mình dấn thân vào việc thực hiện những hoạt động nghề nghiệp như là việc chu toàn một nghĩa vụ, như là một dịch vụ mà do họ thực hiện trong sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, trong Đức Kitô, để làm vinh danh Người.[23] 

Như vậy, với vị thế đặc biệt của mình, người giáo dân có thể thi hành những sứ mạng mà hàng giáo sĩ không thể nào chu toàn nổi. Họ đang là men Tin mừng, là muối ướp trần gian. Người giáo dân đang nỗ lực xây dựng Nước trời ngang qua những nẻo đường trần thế, họ là lời nhắc nhở một thời cánh chung đã khởi đầu và đang tiến về sự viên mãn. Lời của Đức Gioan Phaolô II, trong bài giảng bế mạc Thượng hội đồng giám mục 1987, càng cho ta xác tín hơn sứ mạng đặc thù của người giáo dân: 

Người tín hữu giáo dân được đặt vào tận biên thuỳ của lịch sử: gia đình, văn hóa, xã hội, thế giới lao động, kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, truyền thông đại chúng, những vấn đề lớn của sự sống, của liên đới, hoà bình, đạo đức nghiệp vụ, nhân quyền, giáo dục, tự do tôn giáo. 

3. Những thách đố 

Ở trên, chúng ta đã phác thảo linh đạo của người giáo dân dựa trên nền tảng căn bản là bí tích Thánh tẩy; thực ra, bí tích Thánh tẩy là nền tảng chung cho mọi Kitô hữu, chẳng kỳ họ là giáo dân hay giáo sĩ. Thiết tưởng ngay trong cách phân chia này, dù có nhìn tích cực đến đâu, người giáo dân vẫn bị xếp hạng. Phải nói rằng Công đồng Vatican II đã có bước đột phá rất lớn trong việc xác định lại vai trò của người giáo dân trong Giáo hội, đưa ra những suy tư định hướng cho một nền linh đạo giáo dân; tuy nhiên, đây mới chỉ là lý thuyết, hay những biểu ngữ sáo rỗng; về phương diện thực hành, Công đồng không đưa ra những chỉ dẫn cụ thể để người giáo dân có thể tham gia một cách tích cực vào những tác vụ của Giáo hội;[24] cho nên sứ mạng chung của cả Giáo hội vẫn thường bị coi như là công việc riêng của hàng giáo sĩ, đặc biệt là trong công tác quản trị. 

Một chút nhìn lại lịch sử, trong thiên niên kỷ thứ nhất, giáo dân và giáo sĩ phát triển song hành; bước sang thiên niên kỷ thứ hai, hình ảnh người giáo dân mờ nhạt, hàng giáo sĩ thượng tôn. Nếu dự đoán một chút về tương lai, phải chăng thiên niên kỷ thứ ba này phải là thiên niên kỷ của người giáo dân? Phải chăng cần một lối nhìn thần học mới về người giáo dân, tránh những địa vị, chức tước quá nhiều? Ở một số vùng sâu xa hẻo lánh, người giáo dân được chia sẻ một số tác vụ mà từ trước đến nay chỉ dành riêng cho hàng giáo sĩ, ví dụ như: quản trị cộng đoàn, trao Mình Thánh Chúa, thăm viếng và trao Của Ăn Đàng cho kẻ liệt …; tuy nhiên, những tác vụ này chỉ được thực thi một cách ngoại thường, như một biện pháp chữa cháy, chứ không phải là tác vụ chính thức người giáo dân được trao phó. 

Cũng có những trường hợp người giáo dân lạm dụng chức quyền, chi phối cả những hoạt động của Giáo hội. Điều này đã từng xảy ra trong lịch sử Giáo hội: Vào thế kỷ thứ mười, người giáo dân có quyền bầu Giám mục; và rồi nhiều giáo dân có vai vế, xen mình cả vào việc bầu Giáo hoàng. Do vậy, từ thế kỷ thứ mười một, Giáo hội dần dần bị cơ cấu hóa và dẫn đến tình trạng giáo sĩ trị, quyền bính của hàng giáo sĩ ngày càng được củng cố và đẩy lui vị trí của người giáo dân. Tình trạng thái quá bất cập này còn được Công đồng Trentô củng cố vững mạnh hơn nữa. Suốt cả mười thế kỷ, người giáo dân một cách vô tình chỉ được coi là một Kitô hữu hạng hai; cho tới Vatican II, lối nhìn này mới được đặt lại. Tuy nhiên, để có thể thay đổi não trạng, cả về phía giáo sĩ lẫn giáo dân, cần phải có một “cuộc cách mạng” và phải cần thời gian nữa. 

KẾT LUẬN 

Thánh Âutinh nói: “Làm giám mục cho anh em tôi rất sợ; làm tín hữu đối với anh em, tôi rất an tâm. Giám mục là một chức vụ, tín hữu là một ân phúc. Giám mục là một danh hiệu nguy hiểm, tín hữu là danh hiệu đem lại ơn cứu độ”. 

Quả thực, ơn gọi căn bản và cao quý nhất của mỗi người, đó là ơn gọi được làm Kitô hữu. Qua bí tích Thanh tẩy, người tín hữu được tháp nhập vào thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, được quy tụ thành dân Thiên Chúa, được chia sẻ ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô. Dù là giáo dân hay giáo sĩ, tất cả đều bình đẳng và được trân trọng như những bộ phận khác nhau trong cùng một thân thể. Mỗi bộ phận có chức năng riêng, nhưng tất cả đều nhằm phục vụ cho lợi ích chung. Có lẽ trong thiên niên kỷ thứ ba này, cần phải triển khai ơn gọi là Kitô hữu, như ơn gọi nền tảng của mọi thành phần dân Chúa, và đặc biệt phải giúp người giáo dân nhận ra phẩm giá và vai trò đặc biệt của mình là một Kitô hữu sống ơn gọi giáo dân, cũng như những Kitô hữu khác sống ơn gọi tu sĩ, linh mục. 

Chính từ ý thức này, người giáo dân dấn thân vào trần thế như một chức năng riêng biệt. Ứng với từng hoàn cảnh cụ thể, tuỳ theo nghề nghiệp, tuổi tác, tình trạng bản thân, môi trường văn hoá, kinh tế, chính trị… người giáo dân phải thích ứng và đem vào đó những giá trị Tin mừng. 

Tài liệu tham khảo 

Thánh Công đồng chung Vatican II. 

Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tấn, Linh đạo giáo dân. Đại chủng viện thánh Giuse, 1990 - 1991. 

Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh, tập III, Rôma 2003, chương 12. 

Nguyễn Trọng Viễn, Linh đạo giáo dân và linh đạo giáo dân Đaminh, tài liệu tham khảo khóa học tập về giáo dân Đaminh. 

Thiện Cẩm, Giáo hội, Cộng đồng Dân Thiên Chúa, 1994. 

F. Antonisamy, An introduction to Christian spirituality, St. Pauls, 2000. 


[1] Xc. Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tấn, tr. 2. 

[2] Xc. Phan Tấn Thành, tr. 378. 

[3] Xc. Hiến chế Ánh sáng muôn dân, số 31,2. 

[4] Nên có sự phân biệt ở đây, theo Giáo luật, những tu sĩ không có chức thánh, cũng thuộc vào hàng giáo dân. Theo cấp độ phẩm trật, chỉ phân biệt hàng giáo dân và giáo sĩ (đây là chú thích của người viết chứ không phải của bản văn). 

[5] Xc. Hiến chế Ánh sáng muôn dân, số 31 

[6] Trích theo Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tấn, tr. 251. 

[7] Xc. Nguyễn Trọng Viễn, tr. 2. 

[8] Giáo hội, theo tiếng Hylạp là Ekklesia, nghĩa là sự quy tụ. 

[9] Xc. Cr 12, 12-30; LG 7. 

[10] Xc. Phan Tấn Thành, tr. 378. 

[11] Chúng ta sẽ khai triển riêng ba chức vụ này khi bàn về vai trò của giáo dân giữa lòng trần thế. 

[12] Xc. Chương I của Tông huấn Christifideles laici, nói về chiều kích mầu nhiệm trong tương quan với Thiên Chúa Ba Ngôi. 

[13] Xc. Chương II của Tông huấn Christifideles laici, nói về nội bộ của Giáo hội. 

[14] Xc. Chương III của Tông huấn Christifideles laici. 

[15] Cách diễn tả của Đức Piô XII. 

[16] Xc 1 Cr 12,12. 

[17] Chức tư tế cộng đồng phân biệt với chức tư tế của các linh mục là chức tư tế thừa tác. 

[18] Hiến chế Ánh sáng muôn dân, số 32. 

[19] Ibidem, số 32. 

[20] Ibidem số 32. 

[21] Xc. Nguyễn Trọng Viễn, tr. 7. 

[22] Xc. Phan Tấn Thành, tr. 379. 

[23] Thông điệp Mẹ và Thầy, ban hành ngày 15.5.1961, của Đức Gioan XXIII. 

[24] Những tác vụ tư tế, ngôn sứ, vương giả, chỉ được giải thích một cách hạn hẹp, một chiều. Trong thức tế: phải là người có chức thánh mới được công bố Tin mừng, phải là linh mục chánh xứ mới có quyền tài phán … Không phải là cào bằng tất cả những tác vụ ở đây, nhưng thực tế là vai trò của người giáo dân rất bị hạn chế. 
_____________

Xem thêm 2 bài trên blog Thời sự Thần học đăng ở số 14 - Tháng 12.1998
THẦN HỌC VỀ GIÁO DÂN
THẦN HỌC VỀ GIÁO DÂN TẠI THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC NĂM 1987

Continue Reading...

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

GIỚI THIỆU TÀI LIỆU THAM KHẢO

GIỚI THIỆU TÀI LIỆU THAM KHẢO

Gửi anh em Nhóm nghiên cứu đề tài "Phong trào giáo dân trong Giáo hội"
Để có thêm tư liệu làm bài, anh em đọc bài của Peter N.V. Hai. "NHỮNG SUY TƯ VỀ TƯƠNG LAI THẦN HỌC VỀ NGƯỜI GIÁO DÂN CỦA FABC", Thời sự Thần học - Số 58 (11/2012), tr 182-207.
Ngoài ra, một vài tài liệu dưới đây cũng rất hữu ích. Anh em vui lòng download xuống máy để đọc.
Tông huấn Christifideles laici
A Spirituality for the Laity Yes or No
The Laity
The Role of the Laity
The Theology of the Laity
The Laity in Historical Context

Thân mến,
Pet. Thế Truyền, OP.

Continue Reading...

Đức Thánh Cha kêu gọi giáo dân lãnh trách nhiệm trong Giáo Hội

Đức Thánh Cha kêu gọi giáo dân lãnh trách nhiệm trong Giáo Hội

 Zenit T3, 28/08/2012 - 22:48

Ngày 24/8/2012 

ĐTC Bênêđictô XVI nói rằng giáo dân cần được xem như thực sự "đồng trách nhiệm" trong Giáo Hội, và không chỉ là "cộng sự viên" của hàng giáo sĩ. 

ĐTC đã diễn tả như thế trong một sứ điệp đề ngày 10/8 được Tòa Thánh Vatican phổ biến vào ngày thứ Năm. Sứ điệp được gửi đến Đại hội lần thứ 6 của Diễn đàn về Hoạt động Công giáo quốc tế. Đại hội năm ngày này đang diễn ra đến hết ngày Chúa Nhật tại Rumani. 

ĐTC nói, "Việc đồng trách nhiệm đòi hỏi thay đổi não trạng, nhất là khi liên quan đến vai trò của giáo dân trong Giáo hội. Giáo dân cần được coi là “những người thực sự đồng trách nhiệm” đối với các thực thể và hoạt động của Giáo hội." 

Do đó, ngài kêu gọi giáo dân dấn thân hợp nhất lại, từng người “đóng góp cụ thể phần mình vào sứ vụ của Giáo Hội, tùy theo các tác vụ và nhiệm vụ mà mình có trong đời sống của Giáo Hội, và luôn chân tình hiệp thông với các giám mục.” 

Khi nhắc lại thông điệp Lumen Gentium (Ánh sáng Muôn dân) nói về mối quan hệ giáo dân-giáo sĩ là "gần gũi", ĐTC nói rằng “đào sâu và sống tinh thần hiệp thông sâu xa trong Giáo Hội là điều quan trọng; đây chính là đặc trưng của cộng đồng Kitô hữu sơ khai, như Sách Công vụ Tông Đồ đã thuật lại." 

Ngài cổ võ, "Hãy coi việc dấn thân hoạt động cho sứ vụ của Giáo Hội là việc của chính mình, qua lời cầu nguyện, qua nghiên cứu, tích cực tham gia vào đời sống Giáo hội, tích cực chăm chú nhìn vào thế giới, liên tục tìm ra dấu chỉ của thời đại." 

Khuyến khích việc nghiêm túc đào tạo thường xuyên hằng ngày, ĐTC nói rằng giáo dân được kêu gọi để trở thành những chứng nhân can đảm và đáng tin cậy trong mọi lĩnh vực của xã hội, hầu Tin Mừng trở nên ánh sáng mang lại hy vọng trong những tình huống khó khăn, lo âu, và trong bóng tối mà con người ngày nay thường gặp trên đường đời." 

Ngài nói thêm, "Hướng dẫn người khác gặp gỡ Đức Kitô bằng cách loan báo tin mừng cứu độ của Chúa với ngôn ngữ và những phương cách dễ hiểu trong cuộc sống của chúng ta - một cuộc sống được đánh dấu bởi những biến đổi nhanh chóng về những tiến bộ xã hội và văn hóa - đó là thách đố lớn của việc Phúc âm hóa cách mới mẻ." 

Ở giai đoạn này trong lịch sử, hãy làm việc trong ánh sáng giáo huấn về xã hội của Giáo Hội để thể nghiệm việc "toàn cầu hóa tình liên đới và bác ái, nhằm – cùng với toàn thể Giáo hội – lớn lên trong trách nhiệm chung là cống hiến một tương lai đầy hy vọng cho nhân loại, bằng cách can đảm đưa ra những đề nghị thậm chí là rất đòi hỏi. 

Người chuyển dịch: Trần Vũ 

Nguồn : WGPSG 
Continue Reading...

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

ƠN GỌI VÀ SỨ VỤ CỦA GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI VÀ THẾ GIỚI

ƠN GỌI VÀ SỨ VỤ CỦA GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI VÀ THẾ GIỚI

Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, O.P.

Giáo huấn của Công đồng (và các Giáo hoàng kế tiếp) về ơn gọi và sứ vụ của giáo dân trong Giáo hội và thế giới[1].

1. Vài dòng về lịch sử người giáo dân[2]

Người giáo dân đã có mặt ngay từ buổi đầu của lịch sử Giáo hội và chắc chắn sẽ còn luôn có mặt trong suốt những chặng đường lịch sử của Giáo hội trên đường hướng về ngày Cánh Chung. Tuy nhiên, vị thế của người giáo dân trong dòng lịch sử đó không phải lúc nào cũng được công nhận như một thành phần thiết yếu và chủ động, và cũng không phải lúc nào cũng xếp vào hạng "những con chiên ngoan ngoãn, thụ động, chỉ có nghĩa vụ để người khác hướng dẫn mình và theo các chủ chăn mình như đàn cừu dễ bảo".

Chúng ta cũng nhìn lại những bước "thăng trầm" đó.

1.1. Giáo dân trong Kinh Thánh và trong Giáo hội sơ khai

Trong Kinh Thánh không có từ ngữ "giáo dân". Nhưng Kinh Thánh dùng nhiều từ khác để chỉ chung một cộng đoàn thuộc về Thiên Chúa như: Giáo hội Chúa (Chúa Kitô), Dân Thiên Chúa, Thân Mình Chúa Kitô. Các phần tử các dân tộc trong cộng đoàn đó thì được gọi là: "những người được chọn", "các thánh", "các môn đệ", nhất là từ ngữ "anh em".

Qua tất cả những từ ngữ Thánh kinh đó, người ta đọc được những ý nghĩa chung:

- Đây là một dân cánh chung, được Thiên Chúa kêu gọi để tiến vào vương quốc của Ngài, thừa hưởng đời sống vĩnh cửu của Chúa trong Đức Kitô.

- Họ là những người đáp lại lời Chúa gọi, gia nhập vào hàng ngũ dân Chúa, được hiệp thông với Đức Kitô và nhờ Đức Kitô được thông hiệp đời sống thần linh của Chúa. Từ đó, họ cũng thông hiệp với nhau nữa.

Như thế, một cộng đoàn Kitô hữu trước tiên và căn bản mang ý nghĩa là một cộng đoàn được thánh hiến cho Thiên Chúa, khác biệt với thế giới chứ không diễn tả một sự phân biệt bên trong giữa giáo sĩ và giáo dân. Tất cả mọi người được Thiên Chúa kêu gọi, được lãnh bí tích Thánh Tẩy đều là những người được thừa kế gia sản Thiên Chúa ban trong Đức Kitô, có sự bình đẳng về phẩm giá và đều lãnh trách nhiệm chung về sứ vụ Chúa giao cho, bởi vì họ được chọn để làm ích cho "nhiều người".

Điều đó không có nghĩa là không có khác biệt nào về vai trò của các thành phần : "Thần khí tỏ mình ra nơi mỗi người mỗi cách là vì ích chung" (1 Cr 12,7 tt).

1.2. Từ ngữ “giáo dân” xuất hiện

Dần dần các công đoàn Kitô hữu phát triển rộng lớn hơn, người ta cảm thấy cần phải củng cố tổ chức để điều hành sinh hoạt của cộng đoàn, cần phải xác định vai trò đặt tên cho mỗi thành phần riêng biệt cũng như cần chỉ định rõ công tác của mỗi thành phần trong các buổi cử hành phụng vụ. Thế là từ ngữ "giáo dân" xuất hiện, trước tiên, trong thư của thánh Clement (năm 95), để chỉ một người tín hữu bình thường, phân biệt với phó tế và linh mục; sau đó, trong thư thánh Justin, để chỉ những người đối đáp với vị chủ tế trong phụng vụ Thánh Thể.

1.3. Giáo dân trong Giáo hội thời tử đạo

Trong thời kỳ Giáo hội bị bách hại, có hai luồng tư tưởng chính vẫn tồn tại song song hoặc nhiều khi đối nghịch nhau:

- Một đàng khi phải chịu bách hại khổ đau, Giáo hội ý thức mãnh liệt mình là dân Cánh chung tha thiết mong chờ Chúa đến để giải thoát và hoàn tất công trình cứu độ của Ngài. Tất cả mọi thành phần trong Giáo hội, giáo sĩ cũng như giáo dân, đều có một nỗi mong chờ chung và đều gấp rút thi hành sứ vụ Chúa trao cho, nỗ lực rao giảng Tin Mừng để chuẩn bị đón Ngày Chúa Quang Lâm mà họ tưởng chừng như đã sắp tới. Trong tình hình như thế, Giáo hội ý thức mạnh mẽ về một sự khác biệt, một sự đối kháng giữa mình với thế giới.

- Đàng khác, vì Giáo hội vẫn phải tồn tại, vẫn phát triển và vẫn phải tổ chức đời sống của những cộng đoàn, nên không thể không chú tâm tới việc sắp xếp, tổ chức một phẩm trật để điều hành, để quyết định nhiều vấn đề trong cộng đoàn. Hơn nữa, thời đó, ảnh hưởng của tư tưởng Platon đang lan rộng, nhiều giáo phụ coi phẩm trật trong Giáo hội như là phản ảnh của trật tự của thiên quốc, các chức vụ trong Giáo hội không chỉ là sự khác biệt cần phải có trong cách tổ chức một cộng đoàn, nhưng còn là những trách vụ đại diện đặc biệt của Thiên Chúa, của Đức Kitô.

Từ đó, dần dần hình thành một cơ cấu phẩm trật trong Giáo hội, cơ cấu này vì chưa có được một nền tảng thần học vững chắc nên thường nặng về tính cách pháp lý nhiều hơn.

1.4. Giáo dân trong Giáo hội thời Trung Cổ

Với chiếu chỉ Milan 313, vua Constantinô đã mở màn cho một giai đoạn mới trong lịch sử Giáo hội. Giáo hội được sống tự do, an bình, được công khai sống đạo và truyền đạo. Đó quả thật là một hạnh phúc lớn lao của cả Giáo hội cũng như của mọi Kitô hữu sau bao năm bị cấm cách. Tuy nhiên điều đó không phải là không kéo theo những hậu quả làm thay đổi sâu xa bộ mặt của Giáo hội.

Cuộc sống an bình làm cho ý thức về một Giáo hội Cánh Chung càng ngày càng giảm bớt, đồng thời củng cố thêm nhu cầu cần phải tăng cường cơ cấu tổ chức. Ngay sau khi hết thời bách hại, khuynh hướng quyền bính đã phát triển mạnh mẽ và người giáo dân càng ngày càng trở thành những người cấp dưới trong Giáo hội. Cuối thế kỷ IV cuốn sách mang tên "Giáo huấn các Tông Đồ" đã viết : "Người giáo dân chỉ là những đứa con nít phải canh chừng".

Hơn thế nữa, trong lòng đế quốc Roma, Giáo hội càng ngày càng phát triển có thêm nhiều đặc quyền và trở thành một thế lực bao trùm hầu hết thế giới tây phương. Giáo hội và trần thế ban đầu thì nương tựa, hỗ trợ mật thiết cho nhau, sau đó gần như đồng nhất thành một. Sự khác biệt, đối lập giữa Giáo hội và thế giới biến mất và thay thế vào đó là sự phân biệt, đôi khi sự đối kháng ngay trong lòng Giáo hội. Người ta bắt đầu sắp xếp các thứ bậc, phân biệt các cách sống đạo, đặt ra mỗi ngày mỗi nhiều thêm chức tước...

Theo dòng thời gian và cùng nhịp độ với hoàn cảnh xã hội, chính trị thuận lợi cho cho Giáo hội, khoảng cách giữa hàng giáo sĩ, tu sĩ và người giáo dân càng ngày càng rộng thêm hơn :

- Khoảng đầu thế kỷ V, các linh mục có y phục riêng.
- Khoảng cuối thế kỷ V, chức "cắt tóc" được thiết lập để đánh dấu những người của Giáo hội.
- Từ thế kỷ thứ VII, với phụng vụ bằng tiếng La tinh, giáo dân càng ngày càng thụ động hơn và càng có thêm những khoảng cách trong cộng đoàn phụng vụ: phần lễ quy được đọc thầm, các lời nguyện linh mục đọc ở ngôi thứ nhất số ít (con, tôi) thay vì là chúng con (chúng tôi).

Những sự phân biệt về phương diện tổ chức như thế đương nhiên kéo theo những hậu quả về phương diện phẩm giá và quan niệm tu đức. Trong một thế giới (Tây phương) hầu như toàn tòng, sứ mệnh truyền giáo mất dần ý nghĩa, thay vào đó là nỗ lực sống đời sống luân lý. Mức độ của đời sống trọn lành cũng được đánh giá ăn khớp theo tổ chức phẩm trật: trước hết là giáo sĩ đến tu sĩ rồi giáo dân.

Ban đầu người ta gọi các tu sĩ là những "con người thiêng liêng" sau cũng áp dụng cho cả các giáo sĩ triều, đối ngược lại với những "con người xác thịt", tức là người giáo dân. Giáo sĩ và tu sĩ được ví như bên phải và giáo dân như bên trái trong một thân thể. Nền tảng của phẩm giá người Kitô hữu không còn là bí tích Thánh Tẩy nhưng là bí tích Truyền Chức, lời khấn dòng, bí tích Hôn nhân. Trọng tâm của đời sống Kitô hữu không còn là trung thành và phát triển gia sản chung mà mọi người được thừa hưởng khi được Thánh Tẩy, mà là nỗ lực từ bỏ ma quỷ, thế gian và xác thịt....

Tóm lại, Giáo hội dần dần biến từ một Giáo hội Cánh chung, nghĩa là một Giáo hội lữ hành qua trần gian để tiến về vương quốc Thiên Chúa trong ngày cánh chung, để trở thành Giáo hội luân lý, đóng chốt trong trần gian và nỗ lực thiêng liêng hóa trần gian.

Tuy nhiên, trong thời kỳ này, dù bị đánh giá thấp so với các "bậc" khác trong Giáo hội, người giáo dân khá hăng say nhiệt thành; họ cố gắng nên thánh trong cuộc sống hằng ngày. Nhiều hội đoàn được thành lập để liên kết với nhau, giúp đỡ nhau sống đời sống Kitô giáo tốt đẹp, thánh hóa đời sống hôn nhân, nghề nghiệp, của cải và đời sống binh nghiệp. Những hội đoàn này hoạt động khá sầm uất, họ có thánh quan thày riêng, cờ hiệu và đồng phục riêng. Trong đó đặc biệt phải kể đến các tổ chức dòng ba. Những tổ chức này đã phát triển rộng rãi và vẫn còn tồn tại mãi đến ngày nay.

Cũng vào thời kỳ này, Giáo hội ý thức được một khía cạnh chưa hề có trong thời Giáo hội chịu bách hại: đó là sứ vụ trần thế của người giáo dân. Giáo hội muốn hướng đời sống trần thế trực tiếp quy hướng vào việc phụng thờ Thiên Chúa, hướng tới ơn cứu độ, tới đời sống luân lý theo tinh thần Kitô giáo. Tất cả đời sống trần thế được đóng khung trong khuôn khổ tôn giáo và theo những luật lệ của Giáo hội. Tuy nhiên, sứ vụ này mới chỉ được hiểu về phương diện chính trị mà thôi, và cũng chỉ mới được áp dụng cho các ông hoàng, là những người giáo dân ưu tuyển. Giáo hội chăm chút đến đời sống đạo đức của các ông hoàng, nêu lên ý nghĩa đạo đức trong trách vụ cai quản quốc gia, chức tước của các ông cũng được thánh hóa với nhiều nghi thức gần như là chức thánh. Sở dĩ như vậy, là vì khi đó Giáo hội tin tưởng rằng một ông hoàng đạo đức, biết xử dụng tốt luật pháp và quyền hành chính trị thì có thể bảo đảm cho một dân chúng tốt.

1.5. Giáo dân trong thời cận đại

Từ thế kỷ XVI đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử thế giới. Những biến chuyển trong giai đoạn này của thế giới tây phương không chỉ liên đến tây phương, nhưng có nhiều liên lụy với toàn thế giới. Những yếu tố chính trong khúc ngoặt lịch sử này là :

- Trào lưu nhân bản thuyết nhấn mạnh tính cách tự lập và cao qúi của con người.

- Những khám phá mới về khoa học, kỹ thuật có ảnh hưởng sâu rộng: máy in, máy hơi nước, la bàn....

- Những cuộc khám phá và những mối liên lạc giao thương với các lục địa khác với châu Âu, có những nền văn hóa và tôn giáo không phải là Kitô giáo.

- Cuộc cách mạng Pháp 1789 khởi đầu một phong trào cách mạng khắp nơi, muốn tách rời Giáo hội và nhà nước.

- Trào lưu vô thần phát triển ngay trong lòng châu Âu Kitô giáo.

- Cuộc cải cách Tin lành và các trào lưu cải cách trong Giáo hội Công giáo (các dòng tu mới, công đồng Trente....). Nhiều yếu tố lớn trong Giáo hội và xã hội như vậy đưa đến một tiến trình tước đoạt, giảm thiểu ảnh hưởng của Giáo hội mỗi ngày mỗi mạnh hơn. Nhiều lãnh vực trước kia nằm trong tay Giáo hội nay tìm cách giữ sự độc lập riêng, trước tiên là về phương diện chính trị sau đó là văn hóa, khoa học, kỹ thuật, giáo dục cho đến cả lãnh vực bác ái và luân lý nữa.

Thế là sau hơn 10 thế kỷ, Giáo hội một lần nữa lại cảm thấy mình chỉ là một nhóm nhỏ giữa dòng một thế giới "trần tục" bao la. Sự phân biệt, đối kháng giữa Giáo hội và thế giới lại xuất hiện như trước kia và như một thách thức nghiêm trọng. Cũng từ đó mối hiệp nhất trong lòng Giáo hội lại bắt đầu hình thành, địa vị của người giáo dân được khôi phục lại dần dần.

Trước hết phải kể đến cuộc cải cách Tin Lành. Trào lưu này đưa tới một sự phân ly đau đớn cho Giáo hội, nhưng không phải là không có một số nét góp phần thúc bách cải tổ Giáo hội và đánh giá lại vị thế, vai trò của người giáo dân trong Giáo hội. Một số nét tích cực của phong trào cải cách Tin Lành là :

- Ý thức được tình trạng "chưa được Phúc Âm Hóa" ở nhiều miền, đặc biệt các vùng nông thôn, phong trào tin lành đã phát khởi một trào lưu rao giảng Tin mừng, làm rõ bản chất của Giáo hội trước hết là để phục vụ Tin Mừng.

- Đề cao việc đọc trực tiếp Kinh Thánh, dịch Kinh Thánh ra tiếng địa phương để người giáo dân không biết tiếng La tinh có thể đọc được.

- Khôi phục lại giá trị chức tư tế cộng đồng. Luther viết : "Chính phép Thánh Tẩy, việc loan báo Tin mừng và đức tin là những yếu tố duy nhất tạo nên tình trạng Giáo hội và thiết lập dân Kitô giáo".

Đáng tiếc là Luther đã đi quá xa khi đề cao chức tư tế cộng đồng để chống lại chức tư tế thừa tác và hàng giáo phẩm. Phản ứng chống lại những quá đáng của Tin lành, công đồng Trentô nhấn mạnh đến tính cách đặc biệt của chức linh mục thừa tác và không nói đến chức tư tế cộng đồng của người giáo dân. Tuy nhiên, trong đời sống, các nhà cải cách Công giáo không hề quên rằng bất cứ ai đã chịu phép rửa tội đều có trách nhiệm đối với sức sống của Giáo hội. Chẳng hạn vào cuối thế kỷ XVI, Philippê Nêri khi bắt đầu công cuộc tông đồ ở Roma cũng mới chỉ là một người đã chịu Thánh Tẩy. Tại Pháp, bà Acarie, đã biến nhà mình thành một trong những trung tâm tích cực nhất của cuộc cải cách Công giáo. Cả những nhà cải cách thuộc hàng giáo sĩ cũng nhắm đến mục tiêu "canh tân đời sống Kitô giáo" dựa trên việc khám phá lại ơn gọi do bí tích Thánh Tẩy (Jean Jacques Olier).

1.6. Giáo dân trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX

Cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 đã đưa đến một trào lưu không thể nào cưỡng lại được nữa: các quốc gia dần dần tách khỏi bàn tay của Giáo hội để biến thành những xã hội hoàn toàn tục hóa. Ban đầu nỗ lực của các vị Giáo hoàng là tìm cách khôi phục lại một xã hội Kitô giáo như xưa, và không có cách nào khác lại phải cậy nhờ đến sự đóng góp của người giáo dân. Thế là hàng rào giới hạn sức lực của người giáo dân được mở ra, nhiều giáo dân nhiệt thành hăng hái lao vào cuộc, rồi các hiệp hội được thành lập nhằm tới các mục tiêu bác ái (chẳng hạn: Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô) hoặc mục tiêu tông đồ (chẳng hạn: Hiệp hội Thanh Niên Công giáo Pháp ra đời năm 1886).

Thế nhưng, trào lưu thế tục hóa không vì thế mà suy giảm; các vị Giáo hoàng nhận ra là không thể quay ngược lại dòng lịch sử. Từ đó, ý thức tông đồ của Giáo hội cũng dần dần biến chuyển đến chỗ: phải làm chứng cho Chúa Kitô ở giữa lòng đời, làm chứng cho những gì căn bản và thuần khiết nhất của Kitô giáo, làm chứng bằng chứng tá của chính đời sống tràn đầy tình bác ái, đầy lòng tin, cậy, mến, chứ không phải bằng cách thiết lập một thế giới Kitô giáo như xưa. Ý thức mới này, may mắn thay lại mở màn cho một cuộc canh tân sâu xa hơn nhiều: canh tân ý thức đức tin, canh tân ý thức về đòi hỏi của Tin Mừng, canh tân phụng vụ, canh tân ý thức sứ vụ về những phương pháp tông đồ trong lòng xã hội trần tục.

Kết quả là một số phong trào Công giáo tiến hành được hình thành và hoạt động tích cực. Khởi đầu là phong trào Thanh Lao Công do linh mục Cardjin lập năm 1924 và được Đức Thánh Cha Piô XI hỗ trợ.

Về phần mình, Giáo hội tìm lại được sự thống nhất các thành phần, ý thức được tầm quan trọng của một chi thể mà lâu nay không được nhìn nhận đúng mức; nhất là Giáo hội sống lại tinh thần Cánh chung, là tính cách cốt yếu của Giáo hội.

Các người giáo dân trong thời đại này cũng tìm lại được phẩm giá của mình trong Giáo hội, ý thức mạnh mẽ sứ vụ được Chúa trao cho giữa trần gian. Trong lãnh vực tông đồ rõ ràng người giáo dân có nhiều điều kiện thuận lợi hơn tu sĩ và giáo sĩ. Nhất là sứ vụ trần thế được làm cho sáng tỏ hơn lúc nào hết. Khi thi hành công việc "làm đẹp bộ mặt thế giới" người giáo dân không chỉ mang tinh thần "để sống cho qua ngày", nhưng ý thức được ý nghĩa công việc đó là tiếp tục công trình sáng tạo của Chúa, là sắp xếp các sự vật cho thích hợp và hướng tất cả theo ý định ngàn đời của Thiên Chúa.

2. Tiến đến một nền thần học về giáo dân

Lần đầu tiên trong lịch sử Giáo hội, một công đồng chung đã dành hẳn một chương trong một hiến chế quan trọng để trực tiếp bàn về người giáo dân. Những khẳng định thần học về phẩm giá và ơn gọi của người giáo dân trong Công Đồng Vatican II, ngày nay, như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, "vẫn có tính hiện đại đáng ngạc nhiên đôi khi còn có tầm mức tiên tri"[3]. Những suy tư đó vẫn là nền tảng cho những triển khai thần học sau Công đồng, cũng như việc áp dụng những suy tư ấy vào đời sống thực tế của Giáo hội, để người giáo dân thực sự là một ơn huệ Chúa ban, góp phần giúp Giáo hội chu toàn sứ mạng của mình. Chúng ta cũng nhìn lại giáo huấn của Công đồng.

2.1. Những bước chuẩn bị

Chẳng phải ngẫu nhiên mà Công đồng đã có được một sáng kiến độc đáo và hình thành được một công trình như thế. Thánh Thần đã chuẩn bị, hướng dẫn và cũng chính Ngài đã thúc đẩy những bước tiến quyết định trong Giáo hội. Thánh Thần không chỉ làm việc nơi Công đồng, qua các nghị phụ, nhưng còn làm việc trong toàn thể đời sống của Giáo hội. Học thuyết của Công đồng không phải chỉ là một sáng kiến độc đáo mà còn là một sự tổng hợp, đúc kết, quảng diễn những gì đang sinh động trong đời sống Giáo hội, và sau cùng chính thức trình bày với toàn thể Dân Chúa. Ở đây, chúng ta có thể kể ra một vài dữ kiện tiêu biểu trên quãng đường đó trước khi đi vào giáo huấn căn bản của Vatican II về người giáo dân.

* Đóng góp của các thần học gia: Trong khoảng thập niên 30 của thế kỷ này, người ta thấy xuất hiện một số công trình nghiên cứu của các thần học gia bàn về phẩm trật trong Giáo hội và người giáo dân. Trong số đó đặc biệt phải kể đến đóng góp của cha Yves Congar OP.

* Đức Piô XII : trong bài nói chuyện với các tân hồng y ngày 20-2-1946, đức thánh cha Piô XII đã nói :

"Những người giáo dân đứng hàng ngũ những người tiên phong của đời sống Giáo hội. Nhờ họ mà Giáo hội trở thành nguyên lý sống động của xã hội nhân loại. Vì thế họ phải ý thức rõ rệt hơn rằng mình chẳng những thuộc về Giáo hội mà chính là Giáo hội".

Khẳng định đó của Đức Thánh Cha chắc chắn đã có một tiếng vang lớn. Thượng Hội Đồng Giám Mục 1987 và tông huấn "Kitô hữu giáo dân" của đức Gioan Phaolô II cũng đã nhắc lại ý tưởng đó[4].

* Những đại hội thế giới về tông đồ giáo dân: trong khi đó, từ sau thế chiến thứ nhất, đã có một số phong trào công giáo tiến hành nảy sinh ở các nước Tây phương và đã góp phần làm cho ý thức của Giáo hội về vai trò làm tông đồ của người giáo dân thêm mạnh mẽ. Cao điểm là những đại hội thế giới về tông đồ giáo dân năm 1951 và 1957.

- Tại đại hội 1957, Đức Thánh Cha Piô XII một lần nữa lại đưa ra một ý niệm quan trọng, góp phần hình thành rõ nét hơn về vai trò của người giáo dân cũng như tính cách đặc thù trong ơn gọi giáo dân.

"Mối tương quan giữa Giáo hội và thế giới đòi phải có sự can thiệp của các tông đồ giáo dân. Việc "thánh hiến trần gian", trong cốt yếu, chính là công việc của người giáo dân, là những người hòa nhập một cách chặt chẽ vào đời sống kinh tế xã hội".

- Đức Gioan XXIII: Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, trước một xã hội tan nát nhưng cũng đồng thời manh nha nhiều yếu tố mới, đức thánh cha Gioan XXIII lại nhắc đến vai trò của người giáo dân như là lời đáp lại tiếng kêu khẩn thiết của thế giới :

"Giáo hội hôm nay phải đương đầu với một trách nhiệm lớn lao: đem sắc thái nhân bản và Kitô giáo vào trong nền văn minh hiện đại, sắc thái mà nền văn minh này đòi hỏi và dường như khẩn khoản nài xin, nhằm lợi ích phát triển và sự hiện hữu của nền văn minh ấy. Giáo hội chu toàn các trách nhiệm ấy, đặc biệt nhờ các giáo dân, là những người phải cảm thấy mình dấn thân vào việc thực hiện những hoạt động nghề nghiệp như là việc chu toàn một nghĩa vụ, như là một dịch vụ mà do họ thực hiện trong sự kết hiệp mất thiết với Thiên Chúa, trong đức Kitô, để làm vinh danh Ngài"[5].

2.2. Học thuyết Công Đồng

Công đồng Vatican II dành hẳn chương IV trong hiến chế tín lý Ánh Sáng Muôn Dân để bàn về phẩm giá vai trò của người giáo dân. Tuy nhiên chương IV này lại liên hệ mật thiết, đúng hơn là đặt nền tảng ở chương II nói về Dân Thiên Chúa. Vì thế trước khi đi vào những suy tư thần học của chương IV, chúng ta phải nhìn đến nền tảng chung của mọi thành phần trong Giáo hội, bởi vì phẩm giá và ơn gọi của các thành phần chỉ thực sự có được và có ý nghĩa đích thực trong nền tảng chung ấy mà thôi.

2.2.1. Giáo hội: Dân Thiên Chúa

Ý niệm “Dân Thiên Chúa” giữ một vị trí then chốt trong toàn thể tư tưởng của hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân[6]. Ý niệm đó trình bày hình ảnh Giáo hội trong chiều kích lịch sử. Giáo hội là dân lữ hành trong trần gian và hướng về ngày cánh chung. Khi diễn tả Giáo hội là Dân Thiên Chúa, Công đồng thực sự đã lấy lại được một cách nhìn đã có từ trước, theo đó, Giáo hội chỉ thực sự là mình và chỉ thực sự đóng đúng vai trò của mình khi đặt mình trong dòng lịch sử cứu độ.

Theo cha Yves Congar OP, nguyên việc sắp xếp thứ tự các chương trình trong Hiến chế đã cho thấy một ý nghĩa quan trọng. Thứ tự các chương như sau :

1/ Mầu nhiệm Giáo hội.
2/ Dân Thiên Chúa.
3/ Phẩm trật trong Giáo hội.
4/ Người giáo dân.

Theo thứ tự này, Công đồng muốn nói lên rằng chính Giáo hội như Dân Thiên Chúa mới đích thực là nền tảng chung, là thực tại căn bản quy tụ và hiệp nhất mọi thành phần, chứ không phải như não trạng của một số người vẫn coi hàng giáo phẩm là nền tảng của Giáo hội.

Về nội dung của ý niệm Dân Thiên Chúa, chúng ta thấy có những điểm chính như sau :

* Sự liên tục trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa

Giáo hội được Thiên Chúa kêu gọi làm dân của Ngài, một dân mới, kế tục và thay thế cho dân cũ là Israel. Dân mới này được triệu tập từ khắp muôn dân, đón nhận mọi người, hợp thành một dân duy nhất "trong Thánh Thần chứ không theo xác thịt"[7]. Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Dân Mới có một vai trò đặc biệt, không thể thay thế, không thể hoán đổi. Giáo hội thực sự là Dân cánh chung trong quãng thời gian mong chờ ngày cánh chung này.

* Gia nhập Dân Thiên Chúa

Mỗi người Kitô hữu được Chúa gọi không phải là đơn độc, một mình theo Chúa và một mình có trách nhiệm với Ngài, nhưng được mời gọi để gia nhập vào Dân Thiên Chúa, vào trong một cộng đồng đức tin, tham dự vào Thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội. Thuộc về Đức Kitô, đồng thời cũng có nghĩa là thuộc về Giáo hội. Công đồng nói :

"Thực vậy, chính Người đã lấy máu mình mà chuộc lấy Giáo hội (Cv 20,28). Người đổ tràn Thánh Thần và ban các phương thế thích hợp để kết hiệp thành một xã hội hữu hình. Thiên Chúa triệu tập tất cả những người tin và mong đợi Chúa Kitô, Đấng ban ơn cứu độ và hiệp nhất, nguyên lý của sự hòa bình, Ngài thiết lập họ thành Giáo hội để Giáo hội trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ ấy cho toàn thể và cho mỗi người"[8].

Ý niệm giáo dân chỉ thực sự có ý nghĩa trong ý nghĩa chung của Giáo hội, vì Giáo hội là một thực tại nền tảng, không phải do các thành phần góp thành, nhưng chính Giáo hội thể hiện tính cách chung của mình nơi mỗi thành phần. Thần học về người giáo dân chỉ là một trắc diện trong toàn thể thần học về Giáo hội. Vì vậy, những khẳng định về giáo dân bao giờ cũng phải gắn liền với những xác quyết rộng lớn hơn, bao trùm hơn, trọn vẹn hơn đó là những khẳng định về mầu nhiệm Giáo hội.

Như thế, là Kitô hữu, trước tiên có nghĩa là được sát nhập vào dân của Chúa. Mọi ân huệ, phẩm giá và sứ vụ của người Kitô hữu đều phát xuất từ cộng đoàn dân Chúa mà họ được hiệp thông. Ơn gọi Kitô hữu, giáo dân hay các ơn gọi khác, chỉ có ý nghĩa trong cộng đoàn dân Chúa.

* Sống đức tin như một lịch sử ơn cứu độ

Phải công nhận rằng, từ lâu trong Giáo hội, vẫn có một não trạng “siêu lịch sử” chi phối suy tư thần học và cung cách sống đạo. Khuynh hướng ấy giả thuyết rằng việc gặp gỡ Thiên Chúa và đạt được ơn cứu độ của Ngài diễn ra hoàn toàn trong một nơi huyền nhiệm nào đó của tâm hồn, một tâm hồn không bị nhiễm bẩn do những thực tại của không gian và thời gian. Do đó, người ta nỗ lực thoát khỏi những biến động của thời cuộc, nhìn những biến cố lịch sử xung quanh mình như một thế giới đi song song hoặc bên ngoài đời sống thiêng liêng.

Khởi từ Vatican II, có một nỗ lực triển khai trong chiều hướng thần học lịch sử và cụ thể, để đưa Giáo hội thoát khỏi một lối nhìn siêu lịch sử và mở ra cho Giáo hội sự hiểu biết đa dạng, xuyên qua không gian và thời gian, qua những nền văn hoá và văn minh. Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa con người và Thiên Chúa, dưới ánh sáng đức tin, là ý nghĩa đích thực của tất cả lịch sử và do đó, trở nên “lịch sử cứu độ” hay “nhiệm cục cứu độ”. Chân lý cứu độ không còn là một hệ thống các ý tưởng soi sáng từ trên cao, nhưng là một lịch sử hướng tới tương lai đầy tràn ý nghĩa mà con người không ngừng khám phá, xây dựng, thông hiểu và tác tạo nên.

Suy tư thần học trong những thập niên cuối thế kỷ XX, nhờ vào các nhà thần học như Newmann, Teilhard de Chardin, Congar, Chenu, Danielou, Rahner, de Lubac, Schillebeeckx ..., luôn ý thức rằng chiều kích thời gian thấm sâu vào đời sống tinh thần của con người và tạo nên tính chất thiết yếu của mọi kinh nghiệm nhân sinh cũng như kinh nghiệm đức tin. Kinh nghiệm đức tin chính là nhận ra “nơi chốn” thực hiện nhiệm cục cứu độ, kinh nghiệm ấy được thực hiện trong chính lịch sử. Theo nghĩa này, không có đức tin, không có ơn cứu độ, không có thần học nào ở ngoài lịch sử; bởi vì đức tin là sự trả lời đối với một biến cố, ơn cứu độ cũng chính là một biến cố và thần học chỉ có thể hiện hữu khi dựa vào những sự kiện, từ Abraham cho đến đức Giêsu Kitô, và đến Giáo hội, một Giáo hội vốn sống trong không gian và thời gian.

Kitô giáo không phải là một hệ thống các tư tưởng, nhưng là “nhiệm cục cứu độ”. Chúng ta không thể hiểu được thế giới nếu loại bỏ thời gian và những đặc tính riêng biệt, cụ thể của thế giới. Chính đường nét ấy thể hiện tính mới mẻ riêng biệt của mặc khải Do Thái – Kitô giáo, so với những quan niệm Đông phương cũng như Hy Lạp.

2.2.2. Bí tích Thánh Tẩy

Chính bí tích Thánh Tẩy hay nói rộng hơn các bí tích khai tâm Kitô giáo, là nguyên lý tháp nhập mỗi người vào trong Dân Chúa. Qua bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu được cùng chết, cùng phục sinh với Đức Kitô. Người Kitô hữu chết đi cho con người cũ và sống lại thành nên một thụ tạo mới; được biến đổi hoàn toàn; có một phẩm giá, một địa vị mới và bước vào một lãnh vực mở ra một chân trời mới huyền nhiệm. Qua bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu trở nên con Thiên Chúa, nên "những người con trong Người Con" - được hội nhập vào thân thể duy nhất của Đức Kitô là Giáo hội và được trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần.

Cũng như Dân Thiên Chúa là thực tại nền tảng cho các thành phần trong Giáo hội, thì bí tích Thánh Tẩy là bí tích tháp nhập mỗi người vào Dân Thiên Chúa cũng thực sự là nền tảng của mọi bí tích khác và làm nên nền tảng chung của mọi Kitô hữu, giám mục, linh mục, tu sĩ cũng như giáo dân. Nền tảng chung này là: phẩm giá và ơn gọi làm con Chúa. Nền tảng chung đó thực sự đã bao hàm tất cả những gì cao quý nhất của cuộc đời Kitô hữu và xác định một sự bình đẳng thực sự giữa mọi thành phần trong Giáo hội. Chúng ta có thể nói được là: các ơn gọi khác nhau cũng như các bí tích khác nhau chính là những cách thức thể hiện cụ thể và riêng biệt một ơn gọi chung, là ơn gọi làm con Chúa được lãnh nhận trong bí tích Thánh Tẩy.

Đức thánh cha Gioan Phaolô II, trong tông huấn "Kitô hữu giáo dân" đã viết: "Thật không quá đáng khi nói rằng toàn bộ đời sống của giáo dân nhằm tới việc thông hiểu tính mới mẻ căn bản của Kitô giáo, phát sinh từ bí tích Thánh Tẩy"[9].

Và công đồng Vatican II trong hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân viết :

"Thế nên chỉ có một dân Thiên Chúa được Ngài tuyển chọn 'Chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một Thánh Tẩy' (Ep 4,5), cùng chung một phẩm giá của những chi thể, vì đã được tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ được là con cái, một ơn gọi trở nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất, một đức ái không phân chia (...) giữa tất cả mọi người vẫn có bình đẳng thực sự, bình đẳng về phương diện phẩm giá và hoạt động của mọi tín hữu, để xây dựng thần thế Chúa Kitô"[10].

Như thế, hình ảnh Giáo hội không còn là hình ảnh một kim tự tháp, nhưng là một sự hiệp thông của mọi thành phần bình đẳng, hiệp thông vào ơn gọi và sứ vụ chung của Giáo hội.

2.3. Ba chức vụ: Tư tế - Ngôn sứ - Vương giả

Truyền thống Tân Ước xác nhận nơi Đức Kitô có tất cả những chức vụ liên quan đến vai trò của vị Cứu Tinh được nói trong Cựu Ước, đó là các chức vụ: Tư tế, Ngôn sứ và Vương giả.

Đức Kitô không phải là một vị tư tế, tiên tri hay vị vua như các vị khác trong Cựu Ước, nhưng Ngài chính là vị Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Giả đặc biệt và duy nhất, theo nghĩa hoàn hảo nhất.

Nhờ bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu, mọi Kitô hữu, được tháp nhập vào Đức Kitô, thì cũng được thông chia ba chức vụ đó của Ngài. Không phải chỉ là một danh nghĩa bên ngoài, nhưng đó là một sự thông phần thực sự. Như vậy người Kitô hữu cũng phải thực sự đảm nhận trách nhiệm và thi hành tác vụ thích hợp với ba chức vụ đó của Chúa Kitô.

a. Chức vụ tư tế

Chúa Kitô là vị linh mục duy nhất, bởi vì chỉ có Ngài mới dâng lên Chúa Cha của lễ đích thực có thể xóa được tội lỗi con người. Của lễ đó chính là Mình Máu Ngài chứ không phải chỉ là máu chiên bò như các tư tế khác đã dâng và không cứu độ ai. Để thi hành chức vụ này cách trọn vẹn, Ngài cũng gọi một Dân là Giáo hội và Giáo hội được thánh hóa thành Dân Thánh, Dân Tư Tế.

Khi lãnh bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu được tham dự vào chức tư tế của Đức kitô, người ta gọi là chức Tư tế Cộng đồng. Nhờ chức tư tế cộng đồng này, Kitô hữu có thể thực sự thánh hóa đời sống mình, thánh hóa mọi sinh hoạt, mọi trách vụ và kể cả các thử thách trong cuộc sống nữa. Tất cả những điều đó được thực sự kết hiệp với lễ vật của Đức Kitô mà dâng cho Chúa Cha, khi mà người Kitô hữu sống những hoàn cảnh đó trong đức tin, và trong lúc tham dự các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Hiến chế Giáo hội viết :

"Thực vậy những kẻ mà Người đã cho tham dự mật thiết vào sự sống và sứ mạng của Người, Người cũng cho họ dự phần vào chức vụ tư tế để họ thực hành việc phụng thờ thiêng liêng, hầu tôn vinh Thiên Chúa và cứu độ nhân loại (...)

.... Mọi hoạt động, kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu Kitô"[11].

b. Chức vụ Ngôn sứ

Tiên tri hay ngôn sứ là người thay mặt Thiên Chúa để nói cho nhân loại biết ý muốn của Ngài. Đức Giêsu là vị Ngôn Sứ cao cả mà Thiên Chúa đã hứa ban cho dân, Ngài là vị Ngôn Sứ chỉ nói "những điều đã nghe biết nơi Chúa Cha". Ta thấy chỉ có Đức Kitô mới đích thực là tiên tri theo nghĩa hoàn hảo nhất, vì chỉ nơi Ngài, ý định của Chúa Cha mới được tỏ lộ trọn vẹn. Các tiên tri khác chỉ là chuẩn bị và loan báo về vị Ngôn Sứ Kitô mà thôi.

Trong Giáo hội, người giáo dân được tham dự vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô thì họ cũng góp phần vào sứ vụ loan báo ý định cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại: họ bày tỏ đức tin và đức ái cho những người chung quanh, trong lãnh vực nghề nghiệp và nhất là trong đời sống gia đình.

“Có một bậc sống rất giá trị để thể hiện nhiệm vụ đó, bậc sống được một bí tích đặc biệt thánh hoá, đó là đời sống hôn nhân và gia đình. Gia đình là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân. Từ gia đình, Kitô giáo thấm nhập vào tất cả các tổ chức cuộc sống và dần dần biến đổi các tổ chức ấy; nơi gia đình, vợ chồng tìm thấy ơn gọi riêng của mình là làm chứng cho nhau và cho con cái lòng tin vào tình yêu Chúa Kitô. Gia đình Kitô giáo lớn tiếng loan truyền sức mạnh của Nước Thiên Chúa và niềm cậy trông vào một đời sống hạnh phúc. Như thế, bằng gương lành và chứng tá, gia đình Kitô giáo thuyết phục thế gian đảm nhận tội lỗi mình, đồng thời sáng soi những kẻ đang kiếm tìm chân lý”[12].

Ngoài ra, trong cuộc sống đó, người giáo dân cũng phải làm chứng cho một thế giới siêu việt hơn và làm chứng cho một chung cuộc của thế giới: ngày cánh chung. Họ phải vững tin trông đợi vinh quang một ngày kia sẽ đến.

c. Chức vụ Vương giả

Chúa Kitô một khi đã vâng phục Chúa Cha, lãnh nhận cái chết và đã phục sinh, Ngài bắt muôn vật phải phục vương quyền của Ngài cho đến khi Ngài đặt tất cả mọi sự suy phục Chúa Cha, để Thiên Chúa nên tất cả trong mọi sự (1 Cr 15, 27-28). Đó là vương quyền của Đức Kitô.

Khi lãnh nhận tước vị vương giả của Đức Kitô, người giáo dân được hướng một sự tự do đích thực, tự do vương giả, không còn làm nô lệ cho ác thần, nhưng chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi mình. Đồng thời chức vụ đó cũng thúc đẩy người giáo dân hoạt động để đưa tất cả anh em mình cũng như tất cả vạn vật về với Thiên Chúa Cha.

Để thi hành sứ vụ này, Công đồng nhắn nhủ người giáo dân cần phải nhận biết bản tính sâu xa của các tạo vật, biết cùng đích của chúng là nhằm ca tụng Thiên Chúa. Cho nên người giáo dân, trong môi trường sống của mình giữa trần thế, cần phải nỗ lực làm cho trần gian thấm nhuần ơn cứu độ của Đức Kitô và đưa trần gian đạt tới cùng đích một cách hữu hiệu hơn trong công lý, bác ái và hòa bình.

Đó cũng là trách vụ chung của Giáo hội, nhưng trong công việc này, người giáo dân giữ một trách vụ chính yếu.

2.4. Tính cách trần thế

Với Công đồng Vatican II, chúng ta có thể thấy một giá trị mới xuất hiện trong tâm thức của Giáo hội: giá trị trần thế. Cuộc sống trần thế, cuộc sống thật của con người, không còn là một điều gì đi song song và bên ngoài vận hành của niềm tin. Chính thái độ trân trọng cuộc sống trần thế đưa người Kitô hữu trở lại một cuộc sống “hiện sinh” đầy tràn ý nghĩa, đặt người người Kitô hữu vào hành trình tìm kiếm Nước Trời thông qua cuộc sống và bao hàm những thái độ “có ý nghĩa” đối với dòng lịch sử trần thế.

Được lãnh nhận ba chức vụ Tư tế, Ngôn sứ, Vương giả của Đức Kitô, giáo dân có cùng phẩm giá với các thành phần khác trong Giáo hội. Nhưng tính cách riêng trong việc thi hành ba chức vụ này của người giáo dân là tính cách trần thế.

Chúa Kitô đã kêu gọi những người Kitô hữu làm con Chúa, làm môn đệ của Chúa, không phải để đưa họ tách khỏi thế gian, nhưng để sai đến trong thế gian. Tính cách "không thuộc về thế gian, nhưng được sai đến trong thế gian" một cách nào đó, chính là tiếp tục mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Đó cũng chính là sứ mạng chung của Giáo hội, và của mọi thành phần khác trong Giáo hội. Nhưng sứ vụ trần thế này thể hiện rõ rệt nhất nơi ơn gọi riêng của người giáo dân và nó làm nên tính cách riêng biệt đặc thù của người giáo dân.

Tính cách trần thế không chỉ có nghĩa là họ phải sống ở giữa trần gian, vì sinh kế hay là vì một nghĩa vụ trần thế nào đó, nhưng thực ra nó chính là một sứ vụ của Giáo hội. Sứ vụ đó bao hàm :

- Trước tiên nhờ những mối giây liên lạc xã hội, gia đình, người giáo dân sống liên đới, đồng cảnh với mọi người.

- Nhờ những mối giây liên lạc đó, người giáo dân làm dậy lên chất men Tin Mừng, nêu cao lòng tin, cậy, mến của một người con Chúa và làm chứng cho người khác về tình yêu Thiên Chúa.

- Ngay khi thi hành những công việc hoàn toàn trần thế, người giáo dân cũng nhằm mục đích là làm cho mọi thực tại trần thế "biết ca tụng Đấng Sáng Tạo, quy hưởng những tạo vật đó về con người để con người lại quy hưởng về Đức Kitô".

Như vậy tính cách trần thế, theo Công đồng xác định, không chỉ có nghĩa xã hội (vì phải hiện diện ở đó một trăm phần trăm vì một nghĩa vụ trần thế nào đó), nhưng có một tính cách thần học, nghĩa là mang một sứ vụ đặc biệt và riêng biệt của người giáo dân. Trách vụ đó không có tính cách thụ động, không phải chấp nhận bất đắc dĩ, nhưng là một động lực tích cực giúp người giáo dân mạnh dạn dấn thân. Như thế, người giáo dân không chỉ mong chờ ngày cánh chung, nhưng thực sự góp phần làm cho ngày đó mau chóng được thực hiện. Đó là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cao quý. Ta hãy nghe Đức Gioan Phaolô II nói trong bài giảng bế mạc Thượng hội đồng giám mục 1987 :

"Người tín hữu giáo dân được đặt vào tận biên thùy của lịch sử: gia đình, văn hóa, xã hội, thế giới lao động, kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, truyền thông đại chúng, những vấn đề lớn của sự sống, của liên đới, hòa bình, đạo đức nghiệp vụ, nhân quyền, giáo dục, tự do tôn giáo".

2.5. Mọi Kitô hữu đều có ơn gọi nên thánh

Trong bài giảng bế mạc Thượng hội đồng Giám mục 1987 về chủ đề "Giáo dân", đức thánh cha Gioan Phaolô II đã nói rằng :

"Người giáo dân mang ơn gọi nên thánh, ao ước mãnh liệt có một linh đạo riêng, xứng hợp và khẩn thiết".

Những lời đó là tiếng vang dội lại từ một khẳng định của công đồng Vatican II :

"Vì thế tất cả mọi người trong Giáo hội....đều được kêu gọi lên thánh, như lời thánh Tông Đồ dạy: Vì Thiên Chúa muốn anh em được thánh hóa”. (1 Tx 4,3, Ep 1,4)[13].

Đây là vấn đề tương đối mới, vì trước đây người ta thường hiểu, hay ít ra, thường cảm nhận chung chung là nhiệm vụ phải sống thánh thiện chỉ đòi buộc các linh mục, tu sĩ và ai muốn nên trọn lành thì tìm đến một lối sống "giống giống" như lối sống của các người đó. Não trạng này chắc chắn không phù hợp với truyền thống Giáo hội sơ khai, trong đó mọi người đều được kêu gọi nên thánh, và được gọi là "các thánh của Chúa". Công đồng Vatican II khẳng định lại chân lý này, một chân lý vốn có ngay từ đầu và có lẽ đã bị bỏ quên khá lâu.

Khi lãnh bí tích Thánh Tẩy, như trong Giáo hội sơ khai, người Kitô hữu được gọi là "các thánh của Chúa". Đó không phải là một danh xưng bên ngoài, nhưng nói lên một thực tại, một sức sống thực sự sâu xa, trong lòng người Kitô hữu. Ơn gọi nên thánh là một khía cạnh của thực tại này nên nó cũng là một điều thiết yếu, nội tại, gắn liền với cuộc đời người Kitô hữu. Như thế, với Công đồng, người ta tìm thấy được một hoa trái mới mẻ đặc biệt, đó là một “linh đạo giáo dân”.

Tính cách riêng của người giáo dân, như công đồng Vatican II xác định, là tính cách trần thế. Như vậy, chính trần thế là nơi người giáo dân được gọi, được đặt vào đó thể hiện ơn gọi nên thánh của mình chứ không phải nơi nào khác. Người giáo dân cần phải sống, thể hiện phẩm cách của "các thánh của Chúa" trong cuộc sống hằng ngày của mình ở giữa trần thế: trong gia đình, công việc, trong những mối tương quan xã hội....tất cả những điều gì dệt thành đời sống của người giáo dân.

Phẩm giá của người giáo dân gắn liền với sứ vụ tông đồ và với ơn gọi nên thánh. Vì thế chính sứ vụ tông đồ và ơn gọi nên thánh của người giáo dân cũng gắn liền với nhau. Người giáo dân không thể nại cớ phải chu toàn nhiệm vụ trần gian mà lơ là, bỏ qua ơn gọi nên thánh, hoặc là ngược lại. Đây cũng không phải là một đòi hỏi nghịch lý. Chẳng phải là người giáo dân phải khó khăn chu toàn hai trách vụ tách biệt nhau. Trái lại, hai trách vụ đó kết thành một, hay đúng hơn, đó là hai khía cạnh của một cuộc sống, hoặc ngay cả của cùng mỗi một hành vi.

Thượng hội đồng giám mục 1987 về giáo dân xác quyết sự thánh thiện của người giáo dân nhất thiết phải gắn liền với nghĩa vụ trần thế :

"Chúa Thánh Thần khiến ta khám phá mỗi ngày một rõ là ngày nay sự thánh thiện chỉ có thể đi liền với dấn thân phục vụ công lý, trong tình liên đới với người nghèo, với kẻ bị áp bức. Sự thánh thiện điển hình của người giáo dân phải kết hợp chiều kích xã hội, dựa theo chương trình của Thiên Chúa mà cải tạo thế giới".

Ngược lại, công việc trần thế chỉ có được ý nghĩa đích thực, có được sự phát triển đúng đắn như Thiên Chúa muốn khi mà người giáo dân, nhờ kết hiệp với Chúa, có thể nhìn ra được ý định của Cha đối với trần gian, đồng thời họ có được sức mạnh của Chúa để dấn bước trên đường sứ vụ.

2.6. Mọi Kitô hữu đều có sứ vụ làm tông đồ

Tông đồ giáo dân, đó không phải là một vấn đề mới mẻ gì trong Giáo hội. Ngay từ khi Giáo hội được thành lập, bên cạnh các tông đồ, vẫn luôn có rất nhiều người giáo dân, nam cũng như nữ, công tác tích cực vào công việc loan truyền Nước Chúa. Sự đóng góp đó vẫn luôn có trong Giáo hội, qua suốt quá trình lịch sử, cho dù có được chính thức công nhận hay không, cho dù có được một nền tảng lý thuyết thần học hay không.

Tuy nhiên, phải công nhận rằng, cho đến công đồng Vatican II, sứ vụ tông đồ của người giáo dân vẫn chưa có được một nền tảng lý thuyết rõ ràng. Trong một số thời kỳ, việc tông đồ giáo dân được coi gần như là một ngoại lệ, do ân huệ đặc biệt và riêng tư của một số giáo dân mà thôi. 

Nền tảng thâm sâu của sứ vụ tông đồ chính là ý định của Chúa Cha[14]. Ý định đó được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô, Ngài là Đấng Thiên Sai, đã đến trong thế gian để thi hành sứ vụ Chúa Cha trao cho, sứ vụ cứu độ nhân loại khỏi tội và giao hòa con người, cũng như toàn thể vũ trụ với Chúa Cha[15]. Sau khi Chúa Kitô hoàn thành sứ mạng ở trần gian, Chúa Thánh Thần được phái đến để tiếp tục làm cho trọn vẹn công trình của Đức Kitô, hướng dẫn nhân loại tiến về ngày cánh chung, ngày hoàn tất ý định cứu độ của Chúa Cha[16]. Giáo hội là nơi thể hiện đặc biệt toàn thể "sứ vụ" của Ba Ngôi Thiên Chúa. Giáo hội vừa đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa, lại vừa tiếp tục loan báo ơn cứu độ của Chúa cho nhân loại[17].

Khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu nhận lãnh được tất cả phẩm giá cũng như trách nhiệm của người con Chúa. Hơn nữa, nhờ bí tích Thêm sức, họ được đầy ơn Chúa Thánh Thần để có đủ khả năng chu toàn sứ vụ đó. Ơn gọi làm tông đồ không phải là một điều gì thêm vào phẩm giá của người giáo dân, không phải là một đòi hỏi "nhiệm ý", không phải chỉ là một lời khuyên những người thiện chí, cũng không phải là luật trừ dành riêng cho những người đặc biệt, nhưng nằm trong chính bản chất của ơn gọi làm con Chúa. Bởi vì "ơn gọi làm Kitô hữu, tự bản chất, cũng chính là ơn gọi làm tông đồ"[18].

Nhưng như thế không có nghĩa là mọi phần tử trong Giáo hội đều hoàn toàn như nhau, không có gì khác biệt. Trong ơn gọi chung và sứ vụ chung của Giáo hội, cũng có ơn gọi riêng và có thể nói, một "sứ vụ riêng" của mỗi thành phần. Để chu toàn được sứ vụ của mình, một sứ vụ duy nhất, Giáo hội cần đến nhiều sứ vụ, những sứ vụ đa dạng. Đó là những cách thế khác nhau để hoàn thành một mục tiêu chung.

Như thế, giáo dân có một sứ vụ riêng, khác biệt với sứ vụ của các thành phần khác trong Giáo hội. Sứ vụ này không phải có được do thiếu linh mục thừa tác cũng không phải là phụ thuộc, giúp đỡ các linh mục, tu sĩ, nhưng đó là một sứ vụ đích danh, của Chúa và Giáo hội trao phó, không thể thay thế bằng một loại khác hay bỏ qua được. Linh mục Rey Mermet nói rằng người giáo dân lãnh nhận sứ vụ tông đồ như một sự uỷ nhiệm của đức Kitô một cách trực tiếp,… đó là sự uỷ nhiệm có tính bí tích[19]… Dĩ nhiên, chúng ta hiểu được là sứ mệnh đó được lãnh nhận trong lòng Giáo hội, vì Giáo hội chính là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ”.

Sứ vụ riêng của người giáo dân là cách thức thể hiện ba chức vụ Tư tế, Ngôn sứ và Vương giả của Đức Kitô theo cách thế phù hợp với tính cách riêng biệt, tức là tính cách trần thế.

"Vì bản chất riêng của người giáo dân là sống giữa đời và làm việc đời, nên chính họ được Thiên Chúa kêu gọi để một khi tràn đầy tinh thần Kitô giáo, họ làm việc tông đồ giữa đời như men trong bột"[20].

Một cách cụ thể hơn, ta thấy công cuộc cứu độ của Đức Kitô cốt yếu nhằm cứu độ nhân loại, nhưng cũng bao gồm việc canh tân tất cả trật tự trần thế[21]. Hai khía cạnh đó cũng là hai khía cạnh trong sứ vụ tông đồ của cả Giáo hội[22].

Người ta thường gọi hai lãnh vực này là "trật tự tự nhiên" và "trật tự siêu nhiên". Chúng khác biệt nhau nhưng không đối nghịch nhau. Bởi vì chỉ có một Thiên Chúa, Đấng đã sáng tạo thế giới, sắp xếp những quy luật thiên nhiên để vũ trụ vận hành, tồn tại và phát triển; và cũng chính Thiên Chúa ấy đã sai Con Một yêu dấu của Ngài đến, chịu chết và phục sinh, để ban ân sủng cho con người; và cũng chính Ngài, ngày nay, vẫn đang cử Thánh Thần đến, hiện diện bên cạnh Giáo hội, soi sáng, nâng đỡ và trợ giúp con người để họ đón nhận ân sủng cứu độ của Đức Kitô. Hai lãnh vực đó cùng nằm trong ý định duy nhất của Thiên Chúa về thế giới và con người.

Sứ vụ tông đồ của giáo dân, thể hiện một phần sứ vụ của Giáo hội, nên cũng thông qua hai lãnh vực đó.

* Lãnh vực siêu nhiên

Trong lãnh vực này, sứ vụ chính yếu được ban cho hàng giáo sĩ là những người có nhiệm vụ giảng Lời Chúa và ban các bí tích. Nhưng người giáo dân cũng có rất nhiều cơ hội để đóng góp phần của mình.

"Chính chứng tá đời sống Kitô hữu và những việc làm được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa" (Mt 5,16).

Ngoài ra, giáo dân còn có thể dùng lời nói để loan truyền Tin mừng Chúa Kitô cho người tin cũng như người chưa tin, mạnh dạn nói lên những nguyên tắc đạo lý Kitô giáo mà ngày nay người ta muốn loại bỏ.

* Trong lãnh vực tự nhiên

Lãnh vực tự nhiên chẳng phải là những gì xấu xa, đầy ma quỷ. Giáo lý trong sách Sáng Thế cho thấy mọi sự do Chúa sáng tạo đều tốt đẹp[23]. Công đồng nói :

"Tất cả những gì tạo nên trật tự trần thế như giá trị của cuộc sống và của gia đình, văn hóa, kinh tế, nghệ thuật và nghề nghiệp, tổ chức công đoàn chính trị, bang giao quốc tế và những thực tại tương tự khác, cũng như sự biến chuyển và tiến bộ của chúng, tất cả những thực tại đó, hoặc xét ngay trong bản tính chúng, hoặc xét chúng như thành phần của toàn thể trật tự trần thế, chẳng những chúng là phương thế giúp loài người đạt tới mục đích tối hậu, mà chúng còn có giá trị riêng do Thiên Chúa phú bẩm"[24].

Câu cuối trong đoạn văn công đồng đó cho thấy Công đồng xác nhận sự chính đáng của một trào lưu tư tưởng hiện nay, theo đó người ta muốn nhìn các sự vật trần thế hoàn toàn trong quan điểm nhân loại, độc lập với các lãnh vực siêu nhiên, đó là khuynh hướng trần tục hóa.

Để thi hành sứ vụ tông đồ cả trong lãnh vực siêu nhiên cũng như tự nhiên, nguyên tắc nền tảng chính là Đức ái. Đó là dấu chỉ đặc biệt của người môn đệ Chúa Kitô: "Nếu các cao yêu thương nhau, thiên hạ cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy" (Ga 13,35).


Tạm kết


Cần ghi nhận thêm là Công đồng luôn nhấn mạnh đến tính cách ưu tiên của “Giáo hội toàn thể”. Mọi tác vụ trong Giáo hội đều là tham dự vào tác vụ của Chúa Giêsu và nhằm để phục vụ cộng đoàn. Tiêu chuẩn để đánh giá các tác vụ là tiêu chuẩn cộng đoàn. Chẳng hạn, nền thần học về chức linh mục trước Vatican II có khuynh hướng “quy Kitô”, linh mục là “Kitô đệ nhị”,.. Trong khi đó, nền thần học tác vụ của Vatican II là diễn tả khuynh hướng “quy Giáo hội”, theo đó, các đoàn sủng và tác vụ đều nằm trong ơn gọi và sứ vụ chung của Giáo hội toàn thể.

Cũng nên lưu ý rằng, trong ý hướng ban đầu của sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, đã có sự phân biệt giữa việc “tông đồ trực tiếp” và “tông đồ gián tiếp”; hoặc phân biệt giữa “tông đồ chuyên biệt” và “tông đồ không chuyên biệt”. Theo đó, việc tông đồ trực tiếp và chuyên biệt là những việc gắn liền với việc truyền bá Tin Mừng và thánh hoá Kitô hữu. Còn những hoạt động tông đồ gián tiếp và không chuyên biệt là những hoạt động làm đẹp bộ mặt trần gian, xây dựng xã hội trần thế theo tinh thần Tin Mừng. Quan niệm trên đã không được chấp nhận trong bản văn chính thức, và như thế, không được coi việc xác định tính trần thế của ơn gọi giáo dân như một sự xếp hạng cao thấp, mà như một sứ vụ riêng biệt, một lãnh vực đặc sắc của ơn gọi giáo dân.

Với những xác quyết hết sức rõ ràng của Công đồng Vatican II, phẩm giá, địa vị của người giáo dân đã tìm lại được một nền tảng thần học thật là vững chắc, và chắc hẳn đó là một bước ngoặt mở ra một viễn tượng mới, nhờ đó người giáo dân càng ngày càng thể hiện rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn và phúc lợi hơn vai trò của mình trong Giáo hội cũng như trong xã hội. Từ đây không ai còn có thể từ chối hay cố tình bỏ quên địa vị của người giáo dân nữa.
__________

[1] Bài này đã được đăng trong tập san Về Nguồn I của Huynh Đoàn Giáo Dân Đa Minh; rồi được đưa vào tập chương trình tiến cấp, Tuyên Hứa Tạm, của Huynh Đoàn. Để có một cái nhìn toàn diện hơn về giáo dân, xin coi toàn bộ 05 bài viết trong các tài liệu nêu trên : 1) Người giáo dân qua dòng lịch sử. 2) Tiến đến một nền thần học giáo dân. 30 Linh đạo giáo dân.4) Giáo dân trong Giáo hội hiệp thông. 5) Giáo dân và ơn gọi làm tông đồ.
[2]Phần này viết dựa theo A. Barrufo, đề mục Laic, Dictionaire de la Vie spirituelle, Les Éditions du Cerf, Paris 1987.
[3]Tông Huấn Kitô hữu giáo dân, số 2.
[4]Tông huấn Kitô hữu giáo dân, số 9.
[5]Đức Gioan XXIII, Thông điệp Mẹ và Thầy, ngày 15-5-1961.
[6]Ý niệm “Dân Thiên Chúa” phải được nhìn chung với ý niệm “Nhiệm Thể Chúa Kitô” mới diễn tả được trọn vẹn ý nghĩa mầu nhiệm Giáo hội.
[7]Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 9.
[8]Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 9.
[9]Tông huấn Kitô hữu giáo dân, số 10.
[10]Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 32.
[11]Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 34.
[12]Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 35.
[13]Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, số 39
[14]Xc. Ánh Sáng Muôn Dân, số 2.
[15]Xc. Ánh Sáng Muôn Dân, số 3.
[16]Xc. Ánh Sáng Muôn Dân, số 4.
[17]Xc. Sắc lệnh Truyền giáo, số 2.
[18]Xc. Sắc lệnh Tông đồ giáo dân, số 2.
[19]Xc. Sắc Lệnh Tông đồ giáo dân do linh mục Rey Mermet, Dòng Chúa Cứu Thế trình 
[20]Sắc lệnh Tông đồ giáo dân, số 2.
[21]Xc. Sắc lệnhTruyền giáo, số 2.
[22]Xc. Sắc lệnh Tông đồ giáo dân, số 5.
[23]Xc. Sáng Thế, chương 01.
[24]Sắc lệnh Tông đồ giáo dân, số 1.

Continue Reading...

NHỮNG LINH ĐẠO KHÁC NHAU DỰA THEO CÁC BẬC SỐNG

(Thời sự Thần học – Số 4 – Tháng 4/1996, tr. 68-86)  Tải tệp tin doc tại đây Phan Tấn  "Bậc sống" dịch từ tiếng la-tinh "stat...

Blogroll

About